<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Trưng bày trong nhà &#8211; Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</title>
	<atom:link href="http://mcve.org.vn/category/gioi-thieu/trung-bay/tb-trong-nha/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://mcve.org.vn</link>
	<description>MCVE</description>
	<lastBuildDate>Tue, 20 Aug 2019 20:50:20 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=5.8</generator>

<image>
	<url>http://mcve.org.vn/wp-content/uploads/2017/03/cropped-usbanner-32x32.jpg</url>
	<title>Trưng bày trong nhà &#8211; Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</title>
	<link>http://mcve.org.vn</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Phòng trưng bày số 5: Nhóm ngôn ngữ Nam Đảo và Nhóm ngôn ngữ Hán</title>
		<link>http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-5-nhom-ngon-ngu-nam-dao-va-nhom-ngon-ngu-han/</link>
					<comments>http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-5-nhom-ngon-ngu-nam-dao-va-nhom-ngon-ngu-han/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 11 Mar 2017 07:20:14 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Hệ thống trưng bày]]></category>
		<category><![CDATA[Trưng bày trong nhà]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://news.kit.com.vn/?p=352</guid>

					<description><![CDATA[<p>Phòng số 5 trưng bày và giới thiệu văn hoá của 8 tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo và nhóm ngôn ngữ Hán. Nhóm ngôn ngữ Nam Đảo gồm có 5 tộc người: Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai, Chăm và Chu Ru. Đồng bào cư trú rải rác ở vùng đất Tây [&#8230;]</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-5-nhom-ngon-ngu-nam-dao-va-nhom-ngon-ngu-han/">Phòng trưng bày số 5: Nhóm ngôn ngữ Nam Đảo và Nhóm ngôn ngữ Hán</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<table class="Table1">
<tbody>
<tr>
<td class="Columns1" style="text-align: justify;"><span id="dnn_ctr484_ViewTintuc_View_Chitiet_lbl_Description" class="Text_Description">Phòng số 5 trưng bày và giới thiệu văn hoá của 8 tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo và nhóm ngôn ngữ Hán. Nhóm ngôn ngữ Nam Đảo gồm có 5 tộc người: Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai, Chăm và Chu Ru. Đồng bào cư trú rải rác ở vùng đất Tây Nguyên và ven biển miền Trung thuộc các tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, Ninh Thuận…</span></td>
</tr>
<tr style="text-align: justify;">
<td>
<div class="Columns1">
<p>Nhóm ngôn ngữ Hán gồm 3 tộc người: Hoa, Ngái, Sán Dìu, các tộc người này có nguồn gốc từ Trung Quốc, di cư đến Việt Nam từ lâu đời. Đồng bào cư trú từ các tỉnh biên giới Việt Trung đến các tỉnh Nam Bộ, từ miền núi đến đồng bằng, từ nông thôn đến thành thị. Người Hoa tập trung đông ở các tỉnh và thành phố lớn như khu Chợ Lớn thành phố Hồ Chí Minh, Hội An, Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng.</p>
<p>Các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo và nhóm ngôn ngữ Hán được coi là những đại diện tiêu biểu cho mối giao thoa với các nền văn hoá Ấn Độ và Trung Hoa ở Việt Nam. Văn hoá của cư dân nhóm Nam Đảo mang đậm dấu ấn mẫu hệ, văn hoá các tộc người nhóm ngôn ngữ Hán mang đậm nét phụ hệ. Điều này được thể hiện rõ nét thông qua đời sống và dấu ấn văn hoá tộc ngườì.</p>
<p>* Tổ hợp số 1: Làng bản nhà cửa nhóm ngôn ngữ Nam Đảo</p>
<p>Các tộc người nhóm ngôn ngữ Nam Đảo cư trú thành làng từ vài chục đến hàng trăm nóc nhà. Nhà ở hầu hết các tộc người trong nhóm đều mang dấu ấn của chế độ mẫu hệ. Tuy nhiên, mỗi tộc người, mỗi nhóm địa phương có các kiểu nhà khác biệt.</p>
<p>Người Gia Rai, ở trong các ngôi nhà sàn, cửa chính quay về hướng Bắc, mỗi nếp nhà sàn là một gia đình nhỏ mẫu hệ.</p>
<p>Người Raglai ở nhà sàn dài, mặt sàn cách mặt đất khoảng 1m, rộng hẹp tuỳ theo số lượng thành viên trong gia đình. Nhà thường dựng trên những khu đất cao, bằng phẳng, quanh chân núi, gần nguồn nước.</p>
<p>Cư dân Chăm từ Ninh Thuận đến Nam Bộ sống thành từng làng, trong những khuôn viên, nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự nhất định gồm: Nhà khách, nhà của cha mẹ, nhà của những đứa con nhỏ, nhà của những con gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục, trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và chỗ ở của các cặp vợ chồng. Nhà chính là nhà cuối cùng dành cho cô út cưới chồng về và thừa kế.</p>
<p>Người Chu Ru ở nhà sàn dài bằng gỗ, mái lợp tranh hay lá. Mỗi ngôi nhà gồm nhiều thế hệ sinh sống.</p>
<p>Người Ê Đê cư trú theo từng buôn, trong các ngôi nhà sàn dài của đồng bào dài từ 30 mét đến 60 mét. Đối với những gia đình có nhiều con gái thì ngôi nhà có thể dài tới hàng trăm mét. Do vậy, ngôi nhà dài của người ÊĐê được ví “dài như một tiếng chuông ngân hay một hồi ngựa phi” thì mới có thể đi từ đầu hồi bên này sang đến đầu hồi bên kia.</p>
<p>* Tổ hợp số 10: Nghi lễ chu kỳ vòng đời</p>
<p>Nghi lễ xả tang của người Hoa</p>
<p>Tang lễ của người Hoa được tiến hành qua nhiều bước như: lễ báo tang, lễ phát tang, khâm niệm, lễ chôn cất … và cuối cùng là lễ đoạn tang. Lễ đoạn tang của người Hoa ở Nam Bộ thường được tổ chức sau ngày mất một năm, với nhiều tiểu lễ khác nhau như mời nhà sư, dâng lễ cúng tổ tiên, xả tang để đưa tiễn linh hồn về với tổ tiên. Trong đó, xả tang là nghi lễ đáng chú ý nhất, thể hiện tính nhân văn, đạo hiếu của người sống dành cho người chết.</p>
<p>Đúng 12 giờ đêm (thời điểm giao hoà giữa âm và dương), ở sân nhà bên phía cửa trái, sau 3 tuần cúng hương trà, rượu, nhà sư sẽ làm lễ xả tang cho tang chủ với các dụng cụ cúng như: bàn hương án, lư hương, cây đèn, chậu nước, kéo, lược … Nhà sư thay mặt thần linh xả tang cho con cháu trong gia đình tang chủ, lần lượt từ con trai trưởng đến thứ, cháu, chắt … Đồng thời với nghi lễ này, đồng bào còn tiến hành hoá nhà táng cùng lễ vật dâng cho người chết mang sang thế giới bên kia.</p>
<p>Sau nghi lễ này, con cháu không phải trở tang, mà báo hiếu bằng việc thắp hương, thờ cúng vào ngày rằm, tuần tiết, ngày giỗ và dọn mồ mả cho tổ tiên, cha mẹ vào dịp Tết thanh minh hàng năm.</p>
<p>Lễ cưới người Sán Dìu</p>
<p>Người Sán Dìu sống tập trung tại các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Giang, Quảng Ninh. Trong hôn nhân, đồng bào chú trọng đến môn đăng hộ đối và sự tương đồng về hoàn cảnh kinh tế cũng như địa vị xã hội. Hôn nhân trải qua các bước: lễ dạm hỏi, lễ mừng lục mệnh, lễ ăn hỏi, lễ cưới chính thức và cuối cùng là lễ lại gói.</p>
<p>Trong lễ cưới, đáng chú ý nhất là lễ Khai hoa tửu &#8211; đây là lễ tiễn cô dâu về nhà chồng. Lễ vật dâng cúng tổ tiên gồm hai quả trứng luộc chín được xuyên chỉ đỏ và mỗi bên quả trứng là một đồng xu đặt lên đĩa có hai miếng giấy trắng, đỏ, cắt hình hoa, bên cạnh là một lọ rượu.</p>
<p>Sáng hôm sau, cô dâu trong trang phục truyền thống đội hai chiếc khăn đỏ trên đầu được đưa về nhà chồng (gọi là Hống khăn phạ) Phù dâu cầm ô đen để che cho cô dâu. Đoàn đưa dâu thường không có chú rể, chỉ có đại diện nhà gái và nhà trai. Đến nhà trai cô dâu đi thẳng vào buồng cưới, chú rể nhanh tay cướp một chiếc khăn đỏ trên đầu cô dâu với ý nghĩa linh hồn cũng như tình cảm của cô gái đã thuộc về chàng trai.</p>
<p>Từ đây vợ phải nghe chồng và thể hiện ý nghĩa giải tà, cầu mong hạnh phúc trọn đời. Hai chiếc khăn đỏ này được cất giữ cẩn thận, đến lúc chết, mỗi chiếc khăn được chôn theo một người để đôi vợ chồng tiếp tục sống với nhau ở thế giới bên kia.</p>
<p>Đầu hồi nhà dài Ê Đê trưng bày tại Bảo tàng được làm theo mẫu đầu hồi nhà dài dân tộc Ê Đê, xã Ea Bhoh, huyện Krông Ana, tỉnh Đắc Lắc.</p>
<p>Vật liệu làm nhà bằng tre, gỗ, cỏ tranh, nhà thường làm theo hướng Bắc Nam. Vách nhà bằng phên đan thưng xung quanh, hai bên đầu hồi vách thẳng đứng. Hai bên vách chạy theo chiều dài dựng ngả sang hai bên, nhìn từ xa giống như một chiếc thuyền.</p>
<p>Nhà truyền thống chỉ có vì cột, không có vì kèo, khung nhà và xương mái như hai phần kiến trúc tách rời ghép lại với nhau</p>
<p>Nhà Ê Đê có hai cửa đi lại đặt chính giữa hai đầu hồi, cửa trước dành cho khách và những người đàn ông, cửa sau là lối ra vào của người nhà và phụ nữ.</p>
<p>Trang trí trong ngôi nhà Ê Đê mang đậm đấu ấn mẫu hệ. Cầu thang được đẽo đa giác bệ tròn, khắc 5 &#8211; 7 hoặc 9 bậc lên xuống, biểu hiện rõ nhất là chiếc cầu thang sân sàn trước thường được đẽo cong giống hình mũi thuyền, phía đầu được khắc nổi đôi bầu sữa mẹ. Bầu sữa là hình ảnh tượng trưng cho cội nguồn, sức sống và ưu thế của người mẹ, một nét văn hoá cổ xưa đánh dấu thời đại mẫu quyền. Ngoài ra, đồng bào còn tạc hình tượng vành trăng non thể hiện sự chung thuỷ, niềm mơ ước về tương lai tươi sáng và hạnh phúc hơn.</p>
<p>Sân sàn phía trước nhà &#8211; nơi đồng bào thường giã gạo, trò chuyện sau mỗi ngày lao động. Nhà khá giả thì sân sàn rộng và khang trang. Bên trên sân sàn là cây quá giang, đồng bào trang trí hình tượng con thằn lằn và con rùa thể hiện quan niệm âm dương. Sân sàn phía sau là lối đi riêng của những người trong nhà, khách không được đi lối này.</p>
<p>Trong ngôi nhà dài Ê Đê được chia làm phần chính là Gah &#8211; dùng để tiếp khách và sinh hoạt chung. Tại đây đồng bào đặt ghế dài để khách ngồi, một ghế dành cho chủ nhà, ghế Kpan để nhạc công ngồi khi có lễ. Ngoài  ra còn có một cột chiêng, dọc vách là một dãy ché. Phần còn lại là ôk, đây là nơi đặt bếp ăn và chỗ ở của các đôi vợ chồng.</p>
<p>Trước đây ngôi nhà có 4 thế hệ cùng nhau sinh sống và chịu sự cai quản của 1 người phụ nữ. Con cái lấy theo họ mẹ và được hưởng quyền thừa kế, đặc biệt là cô con gái út vì có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên và phụng dưỡng cha mẹ khi về già. Trong hôn nhân, phụ nữ là người đi hỏi chồng và cưới chồng; đàn ông cư trú bên nhà vợ. Mỗi khi trong đại gia đình có một thành viên nữ lập gia đình thì căn nhà lại được nối dài thêm 1 gian.</p>
<p>Hiện nay, đồng bào Ê Đê đã tách ra thành những hộ gia đình nhỏ, có từ 1 đến 2 thế hệ cùng chung sống. Tuy nhiên, hình ảnh ngôi nhà dài vẫn là nét văn hóa độc đáo, mang bản sắc riêng của tộc người Ê Đê.</p>
<p>* Tổ hợp số 2: Công cụ sản xuất nhóm ngôn ngữ Nam Đảo</p>
<p>Cư dân Nam Đảo miền núi như người Ê Đê, Gia Rai chủ yếu canh tác nương rẫy.  Ngoài lúa, mỳ, ngô. Cư dân còn trồng thêm một số cây công nghiệp như cà phê, ca cao, nho. Cư dân ven biển như người Chăm, Chu ru, Raglai có kinh nghiệm canh tác ruộng nước từ rất sớm.</p>
<p>Dù canh tác nương rẫy hay ruộng nước, cư dân Nam Đảo đều sử dụng cày, bừa làm đất. ở một số chân ruộng khô, đồng bào dùng gậy chọc lỗ để đảm bảo độ màu cho đất. Hiện nay, đồng bào đã giải phóng sức lao động trong công việc đồng áng bằng các loại máy móc hiện đại.</p>
<p>* Tổ hợp số 3: Tập tục trao vòng cầu hôn</p>
<p>Hầu hết các tộc người nhóm Nam Đảo có tục trao vòng cầu hôn. Đó là nghi lễ bắt buộc của các cô gái trước khi làm đám cưới, một tập tục thể hiện sâu đậm dấu ấn mẫu hệ và sự công nhận của thần linh, gia đình, cộng đồng cho đôi trai gái được tổ chức đám cưới để nên vợ, nên chồng.</p>
<p>Phần trưng bày về hôn nhân gia đình nhóm Nam Đảo dành một không gian thể hiện tập tục trao vòng cầu hôn của dân tộc ê Đê, tỉnh Đăk Lắc.</p>
<p>Theo phong tục của người Ê Đê, con gái đi hỏi chồng và hôn nhân cư trú bên nhà vợ, lễ cưới truyền thống được tiến hành theo 4 bước: lễ hỏi chồng, lễ thoả thuận, lễ gọi chồng và lễ lại mặt. Trong lễ hỏi, nghi lễ trao vòng cầu hôn là quan trọng nhất, thông thường khi con gái tìm được người con trai ưng ý, thì báo cho bố mẹ biết. Bố mẹ nhờ ông mối đưa chiếc vòng cầu hôn, mở đầu cho việc giao thiệp với nhà trai. Vài ba lần như vậy, đến khi chàng trai đồng ý thì nhà gái sang nhà trai tổ chức lễ trao vòng. Trường hợp nhà trai không đồng ý thì lễ hỏi phải dừng lại, chờ đến khi sợi tơ hồng cuốn chặt.</p>
<p>Trao vòng cầu hôn được thực hiện trong nghi lễ hỏi chồng. Cô gái cùng ông mối và người anh, em trai của mẹ, mang theo một lễ hỏi gồm một ché rượu, một vòng đồng để cúng thần tới nhà trai. Nếu người con trai không ở trong cùng buôn, thì đoàn nhà gái phải mang theo một gói cơm nếp.</p>
<p>Trong lễ trao vòng cô gái và chàng trai cùng chạm tay vào chiếc vòng đồng, ông cậu cầu cúng Giàng. Họ coi đó như lời giao ước hôn thú, có sự chứng giám của thần linh, sự công nhận của cộng đồng và sự thống nhất của cặp uyên ương. Từ sau lễ trao vòng, hai gia đình chính thức kết mối thông gia. Mỗi bên gia đình cử ra một người đỡ đầu của gia đình mình để thay mặt gia đình giúp đôi trẻ trong mọi nghi lễ cưới xin trong suốt cuộc đời còn lại sau này, người đỡ đầu luôn đóng vai trò như cha mẹ, khuyên răn chú rể, cô dâu và dàn hoà mọi bất hoà giữa hai gia đình.</p>
<p>Sau lễ trao vòng, nhà trai cũng trao cho bên nhà gái chiếc vòng để làm tin cho việc đính ước. Sau đó, nhà trai tổ chức bữa cơm rượu mời gia đình nhà gái.</p>
<p>* Tổ hợp số 4: Lễ hội bỏ mả các tộc người Tây Nguyên.</p>
<p>Lễ bỏ mả là một lễ hội lớn nhất và có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của các dân tộc Tây Nguyên. Trong lễ bỏ mả tập trung nhiều loại hình nghệ thuật như: Kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, âm nhạc, múa, trình diễn&#8230;với mục đích tiễn đưa  người chết về thế giới bên kia, đồng thời “giải thoát” hoàn toàn mọi sự  ràng buộc của người sống đối với người chết.</p>
<p>Đồng bào cho rằng: Chưa làm lễ bỏ mả là chưa cắt đứt được hoàn toàn quan hệ với linh hồn của người chết với người còn sống. Vì thế, trong suốt thời gian này, người nhà phải qua lại thăm viếng, tiếp tế thức ăn, vật dụng cho người quá cố sử dụng. Chỉ khi nào làm lễ bỏ mả thì linh hồn người chết mới được siêu thoát và đi về thế giới của tổ tiên.</p>
<p>Sau lễ cúng bỏ mả coi như hết tang, người chết được những người chồng hoặc người vợ quá cố cho phép đi bước nữa để thực hiện cuộc sống tự do, độc lập của mình.</p>
<p>Thông thường, sau lễ tang từ 3 đến 7 năm người ta phải làm lễ bỏ mả cho người quá cố. Ở một số dân tộc như: Ê Đê, Gia Rai mộ táng chung theo gia đình, dòng họ, vì thế khi làm lễ bỏ mả cũng phải làm chung, dù lễ vật dâng cúng mỗi nhà một khác.</p>
<p>Lễ bỏ mả thường diễn ra từ 3 đến 5 ngày. Trong lễ bỏ mả người ta dựng nhà mồ, làm tượng nhà mồ bằng gỗ thô nhám gồm: Tượng khỉ, tượng chim công, tượng người&#8230; với niềm tin hồn người chết sẽ nhập vào các pho tượng, các pho tượng sẽ trở lại làm nô lệ cho linh hồn người chết ở thế giới bên kia. Hình tượng những người đàn ông, đàn bà khoả thân, phụ nữ giã gạo, người cưỡi voi, cầu thủ bóng đá&#8230; thể hiện rất mộc mạc cuộc sống nơi trần gian để người chết không cô quạnh.</p>
<p>Lễ hội bỏ mả được coi như là một lẽ hội lớn của gia đình, cộng đồng, một ngày vui thực sự của cả người sống và cả người chết. Trong lễ bỏ mả có tấu cồng chiêng,  tổ chức đâm trâu, uống rượu cần, và múa hát mừng cho linh hồn người chết được siêu thoát. Qua đó thể hiện sự giao lưu văn hoá giữa các tộc người trong một vùng.</p>
<p>Sau lễ bỏ mả, người ta không đến thăm viếng nhà mả và những ngôi nhà mồ bị lãng quên theo năm tháng và người sống sẽ đoạn tuyệt hoàn toàn với người chết.</p>
<p>* Tượng nhà mồ:</p>
<p>Tượng nhà mồ là loại hình nghệ thuật điêu khắc độc đáo, của các dân tộc người vùng Trường Sơn &#8211; Tây Nguyên. Tượng nhà mồ được ra đời cùng với nghi lễ bỏ mả đưa tiễn linh hồn người chết sang thế giới của tổ tiên ông bà, sau nữa là làm “nô lệ” cho linh hồn người chết ở thế giới bên kia.</p>
<p>Tượng nhà mồ được làm bằng gỗ, với kỹ thuật trạm khắc đơn giản như dùng dao, rìu phạt, đẽo, đục tạo thành các hình khối, đường nét tinh tế, khỏe khoắn. Nội dung, tư thế thần thái và ý nghĩa của các bức tượng thì muôn hình, muôn vẻ như: Tượng chim công ca ngợi vẻ đẹp của người chết, để làm vui cho linh hồn, tượng chim thần Grứ để che chở và mang may mắn, hạnh phúc đến cho người chết; Tượng ngà voi ca ngợi sức mạnh, lòng dũng cảm của người chết khi còn sống, đồng thời cũng là vũ khí bảo vệ cho linh hồn người chết. Tượng người bế con, người lấy nước, người ngồi khóc, người đánh trống, đánh chiêng, tượng đàn ông, đàn bà&#8230; với các “công cụ” sinh tồn là để khuyên con cháu phải biết tiếp nối sự phát triển của dòng tộc mình.</p>
<p>Tất cả hệ thống tượng được dựng xung quanh khu nhà mồ đều là bức tranh sinh động về cuộc sống nơi trần gian mà người đang sống muốn tái hiện lại để cho người chết khỏi cô quạnh ở thế giới bên kia.</p>
<p>Theo phong tục của đồng bào Tây Nguyên, tượng nhà mồ được làm ra để phục vụ cho lễ bỏ mả và chỉ có tác dụng trong lễ bỏ mả mà thôi. Sau lễ bỏ mả, những tượng nhà mồ cũng bỏ luôn.</p>
<p>Văn hoá dân tộc Chăm:</p>
<p>Dân tộc Chăm ở nước ta còn có tên gọi khác là Chàm, Chiêm Thành, Hroi. Có số dân 132.873 người, sống tập trung ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Ngoài ra người Chăm còn sinh sống ở các tỉnh: An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh và Phú Yên.</p>
<p>Tiếng nói tộc người Chăm thuộc hệ ngôn ngữ Mã Lai &#8211; Đa Đảo. Tôn giáo người Chăm là đạo Hồi và đạo Bà La Môn. Đạo Hồi ở đây có hai nhóm: Bà Ni (Hồi giáo cũ), nhóm Islam (Hồi giáo mới). Phần lớn người Chăm theo đạo Bàlamôn và thờ 3 đấng thiêng liêng của Hindu. Đó là thần Siva, Visnu, Brahma; Một số ít theo đạo Hồi. Những người theo đạo Bàlamôn (tập trung ở Ninh Thuận, Bình Thuận) kiêng thịt bò và người chết được hoả táng; những người theo Hồi giáo (phần lớn ở An Giang và Thành phố Hồ Chí Minh) kiêng thịt lợn và người chết được chôn.</p>
<p>Đồng bào Chăm sống ở đồng bằng, có truyền thống trồng lúa nước là chính. Kỹ thuật thâm canh lúa nước bằng các biện pháp giống, phân bón, thuỷ lợi khá thành thạo. Hai nghề thủ công nổi tiếng là đồ gốm và dệt vải sợi bông.</p>
<p>* Tổ hợp số 5: Nghề thủ công truyền thống của dân tộc Chăm</p>
<p>* Nghề dệt</p>
<p>Dệt vải là nghề thủ công truyền thống đã được phát triển từ lâu đời của người Chăm. Từ thập niên 50 trở về trước người Chăm đã biết trồng bông, lấy sợi dệt vải  đáp ứng nhu cầu may mặc. Ngày nay, tất cả các nguồn nguyên liệu từ sợi cho đến sản phẩm nhuộm đều được mua trên thị trường. Đồng bào dệt vải và trang trí hoa văn trên mặt vải bằng 2 loại khung: Loại dệt dạng tấm và loại dệt dạng dải, mỗi loại khung có kỹ thuật dệt khác nhau. Khung dệt dải người thợ dệt ngồi ghế, sử dụng đôi chân đạp con ngựa tách mặt sợi nền, tay phải kéo go, bắt bông và chặt sợi, tay trái luồn thoi chỉ qua lại. Khung dệt tấm, người thợ dệt ngồi xuống nền nhà giống như cách dệt của người Gia Rai và Ê Đê. Người Chăm nổi tiếng với các sản phẩm dệt ở Châu Đốc, tỉnh An Giang, làng Mỹ Nghiệp, tỉnh Ninh Thuận.</p>
<p>* Nghề gốm:</p>
<p>Bên cạnh nông nghiệp, đồng bào Chăm còn phát triển nghề gốm với kỹ thuật tạo hình sản phẩm gốm hoàn toàn bằng tay với phương pháp đắp con trạch mà không cần bàn xoay.</p>
<p>Quá trình làm gốm phải qua các bước: tạo hình (dựng hình và nạo sửa) trang trí và nung.</p>
<p>Tạo hình: Dụng cụ tạo hình chỉ cần có những cái lu to nhỏ khác nhau. ở khâu này, người thợ dùng 2 tay, một tay quay khối đất, tay kia ấn nặm tạo thành lỗ lõm trong lòng khối đất sau đó kéo vuốt tạo thân, miệng, rồi chấm cát và đặt lên đáy lu. ở khâu này, người làm gốm phải duỗi thẳng tay trái đỡ bên ngoài, tay phải đỡ bên trong, vừa vuốt, vừa kéo miết cho thành gốm cao dần lên. Sau đó vuốt thân tạo miệng đối với đồ gốm nhỏ, nối con trạch đối với đồ gốm lớn. Khi hoàn chỉnh miệng mới sửa thân với đồ gốm nhỏ, hoặc sửa thân mới hoàn chỉnh miệng đối với đồ gốm lớn. Tạo hình xong phải để cho đồ gốm xe khô mới chuyển sang giai đoạn nạo sửa.</p>
<p>Nạo sửa: Dụng cụ gồm 2 loại: Vòng tròn rộng bản, cạnh sắc mỏng làm bằng cật tre già và vòng tròn thân cây mây. Họ dùng vòng tròn cật tre nạo các phoi đất nhỏ dần ở thân và đáy để tạo dáng đáy tròn đều. Đối với các đồ gốm lớn, phải gia công thêm ở giữa thân dưới và đáy bằng cách dùng vòng thân cây mây. Khi đã miết sửa hoàn chỉnh, để trong bóng dâm thoáng gió, khô hẳn mới phơi nắng, càng lâu càng tốt.</p>
<p>Trang trí: Người Chăm ít trang trí hoa văn trên đồ gốm. Chỉ có lu đựng nước hoặc đựng lương thực là được trang trí. Hoa văn được vẽ khi gốm còn chưa khô, ngay sau giai đoạn nặn gốm.Khi vẽ, một tay cầm lược, một tay đỡ trong, chân giật lùi nhẹ theo động tác của tay.</p>
<p>Nung: Gốm được nung ngoài trời, không có lò nung riêng. Nhiên liệu nung là  củi cành, tre khô, rơm và một ít chấu. Khi nung, người ta xếp lớp củi thứ nhất xít nhau theo vòng tròn, lớp thứ hai theo chiều hướng tâm chặt chẽ. Lớp thứ ba lát dưới đáy sản phẩm được xếp theo hình vòng tròn, đường kính 5 &#8211; 6m. Sau đó xếp gốm vào lò theo trình tự lu lớn đặt dưới, úp trực tiếp lên lớp trên củi lát,  đồ nhỏ chèn vào khe trống tạo khối chặt chẽ. Số củi còn lại được luồn vào khe hở để đè lên đống gốm đã xếp xong, phủ rơm lên trên, sau cùng rắc trấu. Lửa được châm ở chân đống gốm ngược chiều gió để rơm khỏi cháy quá nhanh. Khi lửa cháy hết ngọn, sau 15 &#8211; 16 giờ lấy gốm ra.</p>
<p>* Tổ hợp số 6: Tổ hợp văn hoá Chăm</p>
<p>Trong suốt chiều dài lịch sử, người Chăm đã sáng tạo nên nhiều giá trị văn hoá lớn trong khu vực Đông Nam á, nổi bật nhất là di tích đền tháp, văn bia, các tác phẩm điêu khắc trên đá, trên gốm, các tấm bia cổ&#8230; còn lưu lại trên dải đất miền Trung nước ta. Trong đó Thánh địa Mỹ Sơn là một công trình kiến trúc đền tháp tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc cổ Chăm Pa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa Thế giới.</p>
<p>Các tháp Chăm là một dạng kiến trúc tôn giáo mang bản sắc rất riêng. Các đền tháp của người Chăm được xây dựng theo lối kiến trúc độc đáo và riêng biệt, kỹ thuật ghép các viên gạch nung màu nâu sẫm một cách tinh vi và chính xác. Trên mỗi tầng tháp được trang trí hình tượng ngọn lửa và trên ngọn tháp là trụ đá hình dương vật &#8211; biểu tượng của thần Siva, vị thần huỷ diệt và cũng là đấng sáng tạo của vũ trụ.</p>
<p>Trong các tháp người Chăm thờ Linga (biểu tượng sinh thực khí nam) và Yoni (biểu tượng sinh thực khí nữ). Linga và Youni là một biểu tượng tôn thờ sùng kính thần Si Va, thờ thần chủ đại biểu cho tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm. Là vật thiêng của văn hoá Chăm Pa và cũng là vật tượng trưng cho năng lượng sinh sản.</p>
<p>Linga và Youni trưng bày tại Bảo tàng có niên đại ( Thế kỷ IX &#8211; X)  do người Chăm chế tác và tôn thờ tại thôn Bàn Thạch, xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.</p>
<p>Lễ hội Ka Tê</p>
<p>Hiện nay, người Chăm vẫn giữ được tập tục truyền thống mang bản sắc văn hoá riêng, trong đó có các lễ hội diễn ra hàng năm là một di sản văn hoá tinh thần vô giá như: Lễ cộng đồng, lễ dòng tộc, lễ gia đình&#8230; được tổ chức tại các đền tháp. Người Chăm ở Ninh Thuận trong năm có hai lễ hội chính là lễ Ka Tê của người Chăm Bà &#8211; La &#8211; Môn và lễ hội Ramưwan của người Chăm Hồi giáo.</p>
<p>Vào tháng 7 theo lịch Chăm (tức khoảng cuối tháng 9 đầu tháng 10 dương lịch), người Chăm tổ chức lễ hội Ka Tê, có ý nghĩa và quy mô như Tết nguyên đán của người Kinh.</p>
<p>Nội dung lễ hội thể hiện rõ phong tục, tập quán, tín ngưỡng. Nó vừa là nghi lễ mang tính phồn thực, thờ cúng Vua &#8211; Thần, đồng thời mang đậm tâm thức của cư dân nông nghiệp lúa nước.</p>
<p>Lễ hội Ka Tê gồm 2 phần: Phần lễ và phần hội. Lễ là phần tín ngưỡng tâm linh, tin tưởng cầu nguyện của con người; phần hội tổ chức vui chơi giải trí nhằm thu hút mọi người cùng tham gia.</p>
<p>Địa điểm tổ chức hội diễn ra tại 2 tháp: Tháp Pô Klong Ga rai và tháp Pô Rômê. Thông thường lễ hội Ka Tê thường diễn ra trong 3 ngày.</p>
<p>Ngày đầu tiên, là lễ đón rước y phục của Pô Nưgar( người mẹ sứ sở). Y phục sẽ được rước vào đền, đoàn người đón rước là các vị chức sắc, các vị bô lão và thanh niên trong làng.</p>
<p>Ngày thứ hai, lễ hội Ka Tê được diễn ra chính thức tại các đền tháp. Với các nghi thức như: Lễ rước y phục lên tháp, lễ mở cửa tháp, lễ tắm tượng với mục đích tưởng nhớ và tạ ơn vua Pô Klong Garai, là người có nhiều công trong việc khai mương, đắp đập, dẫn thuỷ nhập điền cho mùa màng tươi tốt, dân làng được no ấm, hạnh phúc.</p>
<p>Ngày thứ ba: Lễ hội diễn ra tại các gia đình, họ đoàn tụ tận hưởng giây phút ấm áp, chúc nhau năm mới mạnh khoẻ, làm ăn gặp nhiều may mắn, cùng nhau thưởng thức những món ngon của hương vị ngày tết như: Bánh tét, bánh ít, bánh ngọt và hoa quả&#8230;</p>
<p>Lễ hội Ka Tê diễn ra trong không khí tưng bừng, náo nhiệt với điệu trống Ghi năng, tiếng kèn Saranai cùng những điệu múa Chăm truyền thống làm say đắm lòng người</p>
<p>* Tổ hợp số 7: Tập tục cưới xin của người Chăm (Hồi giáo)</p>
<p>Hôn nhân của đồng bào Chăm theo chế độ một vợ, một chồng, thể hiện dấu ấn mẫu hệ. Phong tục của người Chăm quy định con cái sinh ra theo họ mẹ, nhà gái cưới chồng cho con. Con trai ở rể nhà vợ, chỉ con gái được thừa kế tài sản. Đặc biệt người con gái út phải nuôi dưỡng cha mẹ già nên được chia tài sản lớn hơn các chị. Hôn nhân của người Chăm là đồng tôn giáo và đồng dân tộc. Bên cạnh những nét chung, phong tục cưới xin của hai cộng đồng người Chăm có nhiều điểm khác biệt.</p>
<p>Người Chăm theo Hồi giáo ở An Giang tổ chức hôn lễ tại Thánh đường. Trên đường từ nhà đến thánh đường làm lễ, chú rể được che ô hoa. Các giáo sĩ đọc kinh cầu nguyện và đốt hương trầm để Thánh Alla ban phước cho cô dâu và chú rể. Sau đó, chú rể được đưa về nhà vợ và làm lễ trước phòng the. Khi nhập phòng, chú rể tỏ quyền lực bằng cách chỉ tay vào trán cô dâu và rút trâm cài tóc trên đầu cô dâu để tỏ ý hài lòng về người vợ mà thánh Allah và cha mẹ đã chọn cho mình. Người Chăm theo đạo Bàlamôn ở Ninh Thuận, Bình Thuận  tổ chức hôn lễ bên nhà gái, nhà trai đưa chú rể về nhà vợ. Trong lễ tơ hồng, chú rể và cô dâu cùng nhau ăn miếng trầu lễ, uống rượu và trao nhẫn cưới. Sau đó, chú rể cởi áo trao cho cô dâu bày tỏ hai tâm hồn đã thuộc về nhau. Đêm tân hôn và hai đêm sau, đôi vợ chồng trẻ nằm cạnh nhau, nhưng bị ngăn cách bởi 3 cây nến nhằm thử thách họ vượt qua khó khăn để yêu thương nhau trọn đời. Hiện nay, tập tục này không còn phổ biến nữa.</p>
<p>Văn hoá các tộc người trong nhóm ngôn ngữ Hán.</p>
<p>* Tổ hợp số 8: Cổng hội quán của người Hoa.</p>
<p>Hội quán là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu về kiến trúc và công năng sử dụng.</p>
<p>Hầu hết các Hội quán của người Hoa được xây dựng vào thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18. Đây là nơi duy trì các hoạt động cộng đồng và thờ các vị thần, nuôi dưỡng đời sống tín ngưỡng của cộng đồng.</p>
<p>Cổng Hội quán trưng bày tại Bảo tàng mô phỏng Kiến trúc hội quán Phúc Kiến của người Hoa ở Hội An, được xây dựng vào năm 1697, Tam quan được trùng tu năm 1990</p>
<p>Hội quán có nguồn gốc ban đầu là nơi dừng chân tạm trú của người Hoa mới đến Việt Nam. Trong lúc không nơi nương tựa những người đồng hương ở đây đón tiếp và lưu lại Hội quán. Từ đó họ sẽ được tạm trú và được đồng hương của mình giúp đỡ, kiếm kế sinh nhai, công việc, nơi cư trú. Về sau, Hội quán dần trở thành nơi quy tụ các nhóm người Hoa địa phương. Hội quán cũng là nơi diễn ra các sinh hoạt cộng đồng.</p>
<p>Cổng hội quán Phúc Kiến mang đậm phong cách Trung Hoa như cổng vòm lớn nhiều tầng, mái uốn cong trang trí các hình tượng con lân, sư tử thể hiện sức mạnh của nam giới… và màu sắc chủ đạo thiên về màu đỏ &#8211; màu dương, màu đem lại may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống.</p>
<p>Hội quán đã góp phần thúc đẩy mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành viên của các nhóm người Hoa khác nhau.</p>
<p>* Tổ hợp số 9: Các nghề gia truyền</p>
<p>Nghề bốc thuốc bắc</p>
<p>Từ thời xa xưa, người Hoa đã nổi tiếng với nghề bốc thuốc bắc chữa bệnh cứu người. Đồng bào biết cách sử dụng các loại cây cỏ để bào chế thành những phương thuốc chữa bệnh. Các bài thuốc này phần lớn là bí truyền của dòng họ. Khi di cư đến vùng đất mới họ mở phòng bắt mạch, chẩn đoán bệnh và bốc thuốc cứu người rất có hiệu quả, giữ được chữ tín, nên các hiệu thuốc bắc của người Hoa rất phát triển.</p>
<p>Trong các gia đình và các cửa hiệu buôn bán của người Hoa thường treo câu đối, có ý nghĩa nói về gia cảnh của từng gia đình, nghề nghiệp mà họ làm. Đôi câu đối trưng bày tại Bảo tàng được treo trong cửa hiệu thuốc bắc có 8 chữ Hán với nội dung.</p>
<p>“Bổ thiên phối tế oa thạch kỳ công.”</p>
<p>“Đạo địa luân tài cát lâm trân phẩm”</p>
<p>Có nghĩa: các cây thuốc tốt được trồng trong vườn nhà nếu biết kết hợp sẽ chữa được bách bệnh.</p>
<p>Nghề làm bánh bao</p>
<p>Người Hoa ở Việt Nam giỏi chế biến các loại thức ăn từ bột gạo, bột mỳ như: hủ tíu, mì sợi, vằn thắn&#8230;một trong những loại bánh được làm từ bột mì rất ngon được nhiều người ưa chuộng và biết đến đó là món bánh bao.</p>
<p>Vỏ bánh là bột mỳ được bỏ vào thùng rồi tưới nước vào đánh bột thật nhuyễn, mịn và ủ trong khoảng 30 phút. Sau đó chia thành những cục bột nhỏ, cán mỏng và cho nhân vào rồi hấp cho chín.</p>
<p>Nhân bánh được trộn thịt lợn hay cá thêm dầu ăn. Bánh khi đã nặn xong xếp vào khay, khi nước sôi cho bánh vào hấp khoảng 15 phút thì xả hơi, sau đó hấp thêm khoảng 15 phút nữa là chín. Đây là một món ăn không thể thiếu trong các bữa ăn nào của người Hoa.</p>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>                            <!--codes_iframe--><!--/codes_iframe--></p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-5-nhom-ngon-ngu-nam-dao-va-nhom-ngon-ngu-han/">Phòng trưng bày số 5: Nhóm ngôn ngữ Nam Đảo và Nhóm ngôn ngữ Hán</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-5-nhom-ngon-ngu-nam-dao-va-nhom-ngon-ngu-han/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phòng trưng bày số 4: Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn &#8211; Khơ Me</title>
		<link>http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-4-cac-dan-toc-nhom-ngon-ngu-mon-kho-me/</link>
					<comments>http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-4-cac-dan-toc-nhom-ngon-ngu-mon-kho-me/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 11 Mar 2017 07:17:42 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Hệ thống trưng bày]]></category>
		<category><![CDATA[Trưng bày trong nhà]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://news.kit.com.vn/?p=349</guid>

					<description><![CDATA[<p>Phòng số 4 trưng bày và giới thiệu văn hoá của 21 tộc người nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me. Các tộc người này cư trú ở cả ba miền: Miền Bắc, miền Trung – Tây Nguyên và Nam Bộ. Miền Bắc có 5 tộc người sinh sống. Trong đó, có 4 tộc người: [&#8230;]</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-4-cac-dan-toc-nhom-ngon-ngu-mon-kho-me/">Phòng trưng bày số 4: Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn &#8211; Khơ Me</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<table class="Table1">
<tbody>
<tr>
<td class="Columns1" style="text-align: justify;"><span id="dnn_ctr484_ViewTintuc_View_Chitiet_lbl_Description" class="Text_Description">Phòng số 4 trưng bày và giới thiệu văn hoá của 21 tộc người nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me. Các tộc người này cư trú ở cả ba miền: Miền Bắc, miền Trung – Tây Nguyên và Nam Bộ. Miền Bắc có 5 tộc người sinh sống. Trong đó, có 4 tộc người: Khơ Mú, Mảng, Kháng, Xinh Mun, cư trú ở các tỉnh Tây Bắc. Tộc người Ơ Đu ở Nghệ An. Miền Trung &#8211; Tây Nguyên có 15 tộc người, gồm các dân tộc: Bru – Vân Kiều, Tà ôi, Cờ Tu, Ba Na, Xơ Đăng, Cơ Ho, H Rê, Gié Triêng, Xtiêng, Co, Chơ Ro, Rơ Măm, Brâu.</span></td>
</tr>
<tr style="text-align: justify;">
<td>
<div class="Columns1">
<p>Nam Bộ là địa bàn cư trú của tộc người Khơ Me.</p>
<p>Các tộc người nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me là cư dân bản địa, có lịch sử lâu đời ở Việt nam và Đông Dương. Ngoài đặc điểm chung về ngôn ngữ, phần lớn các tộc người nhóm Môn – Khơ Me sinh sống dựa vào sản xuất nương rẫy kết hợp với ruộng nước. Họ sử dụng hình thức chọc lỗ tra hạt, cào cỏ để canh tác trên nương dốc, dùng gùi để vận chuyển, giỏi đan lát, họ ở nhà sàn và uống rượu cần trong sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Bên cạnh đó, mỗi tộc người còn có những đặc điểm văn hoá  riêng, mang đậm bản sắc văn hoá tộc người.</p>
<p>* Tổ hợp số 1: Làng bản nhà cửa nhóm Môn – Khơ Me:</p>
<p>Các tộc người nhóm ngôn ngữ Môn &#8211; Khơ Me cư trú khá tập trung ở Tây Bắc gọi là bản, vùng Trường Sơn Tây Nguyên gọi là Buôn, vùng Nam bộ gọi là Phum sóc. Dù là làng bản, Buôn hay Phum, Sóc đều được xây dựng ở những nơi cao ráo, xây cất theo lối mật tập, gần nguồn nước, có khu đất canh tác và có nghĩa địa riêng. Các tộc người nhóm Môn – Khơ Me làm nhà theo lối kiến trúc truyền thống, kiểu nhà sàn 3 gian 2 chái, 4 mái. Người Kháng, người Xinh Mun làm nhà như người Thái Đen, hai mái đầu hồi trang trí khau cút hình mai rùa. Bố trí mặt bằng trong nhà lại có sự khác nhau. Nhà người Xinh Mun bao giờ cũng có một gian tiếp khách và đặt bàn thờ ma nhà, các gian còn lại dành cho sinh hoạt gia đình. Nhà người Mảng bao giờ cũng có 2 cửa ở hai đầu hồi, một dành cho nam giới, một dành cho nữ giới. Trong nhà ngăn thành nhiều buồng cho các tiểu gia đình, theo thứ tự buồng khách, buồng chủ nhà và các con trai, con gái.</p>
<p>Các tộc người vùng Trường Sơn Tây Nguyên cư trú theo Buôn, mỗi buôn có vài chục nóc nhà quần tụ quanh ngôi nhà Rông. Đồng bào cư trú trong những ngôi nhà dài, gồm nhiều thế hệ sinh sống, mỗi gian là một gia đình nhỏ.</p>
<p>Nhà ở của người Khơ Me rất đơn giản, chủ yếu là nền đất, vật liệu làm bằng mây, tre, nứa, lá dừa hay thốt nốt. Bố trí trong nhà gồm gian giữa là nơi tiếp khách, hai bên là nơi ngủ của đàn ông, nửa phía sau là buồng nhỏ dành cho phụ nữ. Tất cả tâm nguyện của họ đều dành cho việc xây cất ngôi chùa khang trang ở giữa phum sóc.</p>
<p>+  Kiến trúc hồi nhà mái tròn của người Tà ôi:</p>
<p>Đầu hồi ngôi nhà dài mái tròn của dân tộc Tà ôi trưng bày tại Bảo tàng được mô phỏng theo mẫu nhà sàn dài 100m của gia đình ông Võ Bắt ở thôn Tà Rụt, xã A Ngo, tỉnh Quảng Trị. Đây là ngôi nhà dài có tuổi thọ hàng trăm năm, được làm bằng gỗ kiền kiền, một loại cây lành và có độ bền cao. Nhà được xây cất theo kiểu mái tròn, trang trí “ Khau cút” hình sừng trâu, hình chim cu chéo nhau trên phần mái hồi tiếp giáp với đầu nóc. Mái lợp cỏ tranh, lá cọ, có độ dốc khá lớn.</p>
<p>Nhà dài trung bình từ 10 đến 20 gian, mỗi gian tương ứng với một gia đình nhỏ. Toàn bộ ngôi nhà được đặt trên hệ thống cột chịu lực và ngăn cách với mặt đất bởi một hệ thống sàn cao khoảng 1,5m. Kiến trúc mỗi gian đơn giản, chỉ có hai cột chính, đỡ lấy một quá giang. Trên quá giang là hai tay chạy dài từ nóc gác lên đầu cột, phía dưới sàn có một xà ngang nối hai cột chính với nhau theo kỹ thuật ngoàm để tạo sàn. Toàn bộ hệ thống cột được chôn  xuống đất.</p>
<p>Mặt bằng sinh hoạt trong ngôi nhà gồm có: Gian giữa làm nơi thờ tự, tiếp khách, hội họp chung. Bên trong chia thành nhiều ngăn, mỗi ngăn là một gia đình. Phía trước có cửa chính thông ra một cầu thang đi xuống sân. chính giữa mỗi gian của mỗi hộ gia đình có một bếp lửa, mọi sinh hoạt, ăn, nghỉ… đều diễn ra xung quanh bếp lửa.</p>
<p>Hiện nay kiến trúc nhà sàn dài mái tròn còn ít, gần đây đồng bào ở nhà đất hoặc nhà xây cấp bốn, mái lợp tôn. Các gia đình nhỏ cư trú trong những ngôi nhà dài đã tách ra cư trú trú độc lập theo hộ cá thể.</p>
<p>* Tổ hợp số 2: Canh tác nông nghiệp nhóm Môn – Khơ Me:</p>
<p>Hầu hết các tộc người nhóm ngôn ngữ Môn &#8211; Khơ Me ở Tây Bắc và khu vực Trung Bộ &#8211; Tây Nguyên đều làm nương rẫy kết hợp với ruộng nước. Đối với nương có độ dốc cao, đến nay đồng bào ở nhiều nơi vẫn sử dụng phương thức canh tác truyền thống là phát đốt, chọc lỗ tra hạt.</p>
<p>Quy trình canh tác nương rẫy của các tộc người trong nhóm cơ bản giống nhau, gồm các khâu: Phát, đốt, chọc, trỉa, chăm sóc và thu hoạch. Đồng bào đã biết sử dụng những công cụ lao động phù hợp với điều kiện môi trường. Đối với nương bằng đồng bào dùng cày bừa làm đất. Đối với các nương dốc đồng bào lại sử dụng gậy chọc lỗ để giữ độ màu cho đất. Mọi công đoạn canh tác đều có sự phân công  lao động theo giới tính. Khi gieo hạt nam giới đi trước dùng gậy chọc lỗ, phụ nữ đi sau tra hạt giống và lấp đất. Nhiều nơi cư dân Khơ Mú còn gắn nhạc trên đầu gậy, mỗi khi chọc lỗ phát ra âm thanh như bản nhạc, giảm bớt sự vất vả trong lao động và khiến con người gần gũi với thiên nhiên. Gậy chọc lỗ là công cụ quan trọng nên dùng xong được rửa sạch sẽ và cất ở nơi trang trọng trong nhà. Khi dùng phải làm lễ cúng, để mong cho hạt được nẩy mầm nhanh, không bị sâu bệnh, chim chóc phá hoại</p>
<p>Ngày nay, hình thức này vẫn được áp dụng ở một số nương có độ dốc cao cho phù hợp với thế đất canh tác và bảo vệ độ màu cho đất.</p>
<p>Gắn liền với kinh tế nương rẫy, các tộc người vùng Trường Sơn &#8211; Tây Nguyên đã tạo ra nhiều công cụ sản xuất phù hợp với chu trình canh tác như: Chà gạc, dao phát, cào cỏ, cuốc, rìu. Trong đó, phải kể đến chiếc chà gạc phát nương, một loại dao đa năng, có thể chặt, phát rẫy, có khi trở thành vũ khí đi săn, hay phương tiện để tự vệ ..Vì vậy, với những tộc người Tây Nguyên như Giẻ Triêng, Xtiêng trước đây khi chàng trai đi hỏi vợ nhất thiết phải có một cây chà gạc, rìu và dao vót nan, để chứng tỏ mình chịu khó làm ăn, lúc đó người con gái mới thương.</p>
<p>Vùng Nam Bộ, người Khơ Me cư trú xen kẽ với người Kinh, Hoa, Chăm. Đồng bào chủ yếu canh tác ruộng nước. Họ có nhiều kinh nghiệm trong việc thâm canh cây lúa nước. Từ lâu, đồng bào đã biết chọn giống lúa, biết làm thuỷ lợi và lợi dụng thuỷ triều để thau chua, xổ phèn cải tạo đất. Trong canh tác, đồng bào đã kết hợp cả hai khâu: xạ lúa, tỉa và gieo mạ, cấy.</p>
<p>Trong sản xuất, từ lâu đồng bào đã dùng cày, bừa, để làm đất. Đối với những ruộng sâu hay vùng gập nước đồng bào đã tạo ra chiếc phảng, tay ngắn, lưỡi dài để phát cỏ, sau đó dìm xuống bùn và cấy luôn, không qua khâu cày bừa.</p>
<p>Chiếc hái được người Khơ Me sử dụng rất phổ biến trong việc gặt lúa. Mô típ trang trí đầu rồng phản ánh tín ngưỡng nông nghiệp và tục thờ rắn của cư dân khai phá vùng đồng bằng châu thổ Nam Bộ. Bên cạnh việc trồng lúa nước, người Khơ Me còn trồng hoa màu trên rẫy và cây ăn quả trên những miệt vườn.</p>
<p>Hiện nay, trong sản xuất nông nghiệp, người Khơ Me đã sử dụng một số máy móc hiện đại thay thế những công cụ thô sơ, nhưng nhiều gia đình chưa có điều kiện mua máy cày, nên chiếc phảng, nọc cấy, hái đầu rồng vẫn là công cụ hữu hiệu trong canh tác lúa nước của người Khơ Me ở Nam bộ.</p>
<p>* Tổ hợp số 3: Săn bắt và thuần dưỡng voi của tộc người Mnông:</p>
<p>Cư dân Tây Nguyên nói chung, tộc người Mnông ở bản Đôn, tỉnh Đắk Lắk nói riêng có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rất nổi tiếng. Hàng năm, cứ vào tháng ba âm lịch, các thành viên trong buôn làng lại tổ chức đi săn voi. Săn voi thể hiện tinh thần thượng võ, biểu dương lực lượng của buôn làng và xua đuổi voi rừng đi xa khu vực sản xuất, không phá hoại mùa màng.</p>
<p>Nghề thuần dưỡng voi của người Mnông xuất phát từ kết quả của những cuộc săn bắt. Voi rừng sau khi săn được, các thành viên trong buôn thuần dưỡng để trở thành voi nhà. Với kinh nghiệm và sự sáng tạo của đồng bào, họ đã thuần dưỡng được những chú voi rừng hung dữ để trở thành những chú voi nhà ngoan ngoãn, phục tùng sự chỉ huy của con người như tham gia vào việc vận chuyển, kéo gỗ, săn bắt các con voi khác và thi đua voi trong lễ hội.</p>
<p>Hàng năm, đồng bào Tây Nguyên còn tổ chức cúng sức khoẻ cho voi long trọng như cúng sức khoẻ cho người. Ngày nay, ngành du lịch phát triển, voi còn được sử dụng để dưa đón khách tham quan buôn làng, nhiều lễ hội đua voi được tổ chức mang quy mô lớn trong cả nước.</p>
<p>* Tổ hợp số 4: Nhà rông và lễ hội</p>
<p>+ Nhà Rông Tây Nguyên:</p>
<p>Nhà Rông là một loại hình kiến trúc dân gian lâu đời của nhiều tộc người ở Tây Nguyên, là sản phẩm văn hoá độc đáo, mang sắc thái đặc thù lãnh thổ rõ rệt, và là biểu tượng của các buôn làng Tây Nguyên. Bảo tàng thể hiện trích đoạn mặt trước nhà rông truyền thống của đồng bào Ba Na.</p>
<p>Nhà Rông có 5 gian, cao từ 20m, tượng trưng cho sức mạnh, sự phồn vinh của buôn làng, nên được nhân dân xây dựng rất cẩn thận, chắc chắn bằng các loại gỗ quý. Kiến trúc xây dựng  theo lối nhà sàn có vách che, nóc cao, mái dốc, lòng nhà rộng. Trang trí kiến trúc trên ngôi nhà Rông khá phong phú. Trên vách thưng đan hoa văn bằng tre nứa hình mặt trời, tia sáng, hình kỷ hà, động thực vật…</p>
<p>+ Lễ hội mừng lúa mới của đồng bào Ba Na</p>
<p>Lễ mừng lúa mới của người Ba Na thường tổ chức mỗi năm một lần, tương ứng với chu kỳ vụ rẫy. Nghĩa là cây lúa được trỉa vaò tháng tư, tháng 10, thu hoạch cũng là lúc bà con tổ chức lễ hội mừng lúa mới “lễ soc mor”. Trước kia lễ hội tổ chức kéo dài ba ngày. Hiện nay, lễ hội thu gọn một ngày.</p>
<p>Ngày hội đến, dân làng dựng một cây nêu, cột Gưng để buộc trâu và một cột rượu dưới sân nhà Rông. Lễ vật cúng gồm có: Một con trâu đực khoẻ mạnh, một con heo, một con gà, một vài ché rượu và một bát tiết để làm lễ cúng Yàng. Mỗi gia đình còn chuẩn bị mâm lễ riêng gồm có một con gà, một khay cốm đặt bên cạnh ghè rượu để dâng lên thần linh. Tất cả lễ vật của các gia đình được bày dọc theo 2 hành lang của nhà Rông. Chuẩn bị xong, mỗi gia đình cử một đại diện ngồi vào mâm lễ của mình. Già làng bắt đầu khấn mời thần sông, thần núi, thần rừng, thần lúa và linh hồn của những người đã khuất về thụ lễ và cầu xin thần linh ban cho những bông lúa trĩu hạt, buôn làng no đủ và mọi người khoẻ mạnh.</p>
<p>Kết thúc các bài cúng, những hạt gạo được tung lên không gian để trời đất giao hoà, để thần linh chứng giám và đồng bào yên tâm chờ đợi một năm mới tốt lành, một mùa vụ mới bội thu.</p>
<p>Ngày nay, lúa nước đã thay thế dần cho lúa nương, mỗi năm thu hoạch từ 2 đến 3 vụ. Song lễ hội cầu mùa ở đồng bào Ba Na vẫn tiếp tục lưu giữ sau một số mùa lúa bội thu.</p>
<p>* Tổ hợp số 5: Nghề thủ công đan lát và vận chuyển</p>
<p>Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn &#8211; Khơ Me rất giỏi nghề đan lát đồ gia dụng bằng các vật liệu có sẵn ở địa phương như: Song, mây, lồ ô, lá dừa, tre, nứa và các loại dây rừng. Sản phẩm đan lát bền đẹp, phong phú, đa đạng về kiểu dáng, tinh tế trong cách đan cải hoa văn và có nhiều công dụng khác nhau. Có loại giống như chiếc bồ lớn có nắp để đựng nông sản, có loại dùng để vận chuyển như gùi, sọt thồ hàng. Có loại đồ đựng nhỏ, xinh xắn như: Giỏ đựng cơm, giỏ đựng kim chỉ, hộp đựng trầu cau.</p>
<p>Đặc biệt là chiếc gùi nam của người Giẻ Triêng, Ba Na, Xơ Đăng, Ti Lét của người Tà ôi, rất thích hợp cho việc đi săn. Do vậy loại gùi này có cửa miệng quay vào phía lưng người đeo hay gùi có ba ngăn để đồ vật không bị rơi ra trong khi chạy.</p>
<p>Các tộc người nhóm Môn &#8211; Khơ Me ở khu vực Tây Bắc, Trường Sơn &#8211; Tây Nguyên chủ yếu dùng gùi làm phương tiện vận chuyển, một số tộc người Tây Bắc còn sử dụng dậu để gánh. Vùng sông nước Nam Bộ, đồng bào Khơ Mer vận chuyển bằng thuyền và xe bò.</p>
<p>* Tổ hợp số 6: Tập tục ăn, uống, hút thuốc nhóm Môn – Khơ Me:</p>
<p>Cư dân Môn &#8211; Khơ Me chủ yếu ăn cơm tẻ. Bữa sáng và bữa tối được coi là hai bữa chính, bữa trưa là bữa phụ. Ngoài gạo tẻ, đồng bào còn ăn cơm nếp, ngô, khoai, sắn. Trong dịp lễ, tết, hội hè gạo nếp, gạo tẻ được chế biến thành nhiều món ăn khác nhau. Thức ăn hàng ngày có rau, cá, cùng một số sản phẩm hái lượm từ tự nhiên như rau, sắn, muối chua… Đồng bào rất ưa chuộng các món ăn tái, nướng, xào chua, luộc như ếch nướng trong ống lồ ô, các món thịt xào rau chua, măng chua. Đặc biệt là món phèo lòng non để nguyên dịch và trộn thịt được coi là món đặc sản chỉ dùng khi có khách quý và trong dịp lễ hội.</p>
<p>Dụng cụ chế biến thức ăn gồm có: Nồi hông, chõ. Bữa ăn chủ yếu sử dụng các loại mâm gỗ, mâm tre, các loại rá, hộp đựng cơm, bầu đựng nước uống, được làm từ nguyên liệu tự nhiên: mây, tre, lồ ô hay vỏ quả bầu khô.</p>
<p>Rượu cần là đồ uống phổ biến của cư dân Tây Nguyên. Chế biến và uống rượu cần đã trở thành phong tục, nét văn hoá trong đời sống của đồng bào. Gia đình nào cũng có một vài ché để ủ rượu. Nhiều gia đình có hàng dãy ché đặt chạy dài theo vách nhà. Đồng bào uống rượu cần vào các dịp lễ hội: Lễ rước hồn lúa, lễ mừng cơm mới, lễ chúc sức khoẻ, lễ cầu mùa, lễ cưới, lễ bỏ mả, đón khách quý, anh em, bạn bè lâu ngày gặp mặt&#8230;</p>
<p>Để có ché rượu cần ngon, men phải được làm từ một số loại lá, rễ cây rừng với bột ớt, bột gừng, bột gạo chộn với nước và nắm thành từng bánh nhỏ, ủ đến khi lên mốc trắng (Khoảng 10 &#8211; 15 ngày) là có thể làm rượu được.</p>
<p>Nguyên liệu tốt nhất để làm rượu cần là gạo và kê. Để làm rượu, trước tiên phải nấu chín nguyên liệu, đánh tơi và để nguội. Nếu trời lạnh, chỉ cần hơi nguội là có thể rắc men là được. Khi đưa vào choé phải theo nguyên tắc xếp lớp, cứ một lớp nguyên liệu lại một lớp trấu. Sau cùng, người ta bịt kín miệng choé bằng lá chuối, ủ đến ngày thứ ba là có thể uống được. Rượu ủ càng lâu, càng ngon và có nồng độ cao. Để rượu ngon hơn nữa, đồng bào còn chôn choé sâu xuống dưới đất, khi uống mới đào lên.</p>
<p>Cần để uống rượu được làm bằng cành cây trúc, là loại cây thẳng có đốt dài, được đục rỗng lõi, một đầu vót nhọn để uống ống không bị tắc. Cần được cắm sâu xuống đáy choé, choé cao thì sử dụng loại cần dài.</p>
<p>Thuốc lá là thức hút phổ biến của đồng bào nhóm Môn – Khơ Me, từ nam giới đến phụ nữ, thiếu nữ đều hút thuốc. Thuốc được quấn cả lá theo kiểu sâu kén để hút hoặc đồng bào thái thuốc nhỏ bỏ vào tẩu để hút.</p>
<p>*  Tổ hợp số 7: Chùa dân tộc Khơ Me</p>
<p>Chùa Khơ Me được xây dựng ở giữa mỗi phum, sóc là trung tâm sinh hoạt văn hoá cộng đồng, là biểu tượng văn hoá Khơ Me. Chùa còn là một trường học dạy chữ, dạy giáo lý cho con em nam giới Khơ me khi đến tuổi trưởng thành. Nam nữ Khơ Me kết hôn phải vào chùa làm lễ, để được hạnh phúc. Khi chết đi, xác được hoả thiêu, hài cốt đem gửi vào các tháp cốt trong chùa với mong muốn, ông bà cha mẹ của họ sẽ được Phật chở che không bị hãm hại. Với quan niệm đó, dù khó khăn bao nhiêu người dân trong phum sóc cũng phải chắt chiu để đóng góp xây dựng ngôi chùa to đẹp và lộng lẫy.</p>
<p>Ngôi chùa còn là nơi thiêng liêng để cử hành các lễ hội của đồng bào Khơ Me như: Tết cổ truyền Chôn-Chơ-năm-thơ-mây diễn ra vào giữa tháng 4 âm lịch; Lễ cúng trăng &#8211; lễ Oóc Om Bóc diễn ra vào tháng 10 âm lịch là để cầu mong mưa thuận, gió hoà, mùa màng tươi tốt. Trong lễ hội có tổ chức thả đèn trời, đua ghe ngo.</p>
<p>Lễ hội là không gian bảo tồn, phát huy các giá trị nghệ thuật dân tộc như: Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Dù kê, Rô băm, các điệu múa Sarawan, Rom wong&#8230; được các nghệ nhân chuyên nghiệp hoặc nghiệp dư đua tài biểu diễn làm phước cho mọi người.</p>
<p>Trong khuôn viên chùa Khơ Me có nhiều ngôi nhà, nhưng nổi bật nhất là ngôi chính điện. Đây là trung tâm thờ cúng đức phật, người Khơ me theo phật giáo tiểu thừa. Vì vậy, trong chính điện thờ chỉ có các tượng phật thích ca ở trong những tư thế khác nhau như: Tu hành, đắc đao, cứu vớt chúng sinh.</p>
<p>* Tổ hợp số 8: Nhạc cụ nhóm Môn Khơ Me</p>
<p>Các tộc người nhóm Môn &#8211; Khơ Me đã sáng tạo ra nhiều nhạc cụ phong phú, không chỉ sử dụng trong những dịp lễ hội mà trong cả sinh hoạt đời thường. Điển hình là cồng chiêng, trống, sáo đinh năm, kèn sừng trâu, đàn T’rưng… Đặc biệt, vùng đất Tây Nguyên nổi tiếng với nhạc cụ cồng chiêng được hoà tấu trong các nghi lễ và vũ điệu cộng đồng. Ngày 25 tháng 11 năm 2005 tổ chức Unesco đã công nhận Cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.</p>
<p>Nhạc cụ của người Khơ Me rất đa dạng, tiêu biểu là dàn nhạc ngũ âm chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần. Bộ nhạc cụ gồm có 5 âm thanh: Dàn nhạc ngũ âm thường được đồng bào Khơ Me sử dụng trong các dịp múa hát dân ca, các dịp lễ tết.</p>
<p>* Tổ hợp số 9: Chữ viết trên lá buông của người Khơ me</p>
<p>Dân tộc Khơ Me có tiếng nói và chữ riêng và được hình thành từ rất sớm. Khi chưa có giấy viết người Khơ Me đã biết ghi chép kinh phật và chuyện trên lá buông. Sách lá buông còn gọi là bộ sách Sa Tra dùng để ghi chép các câu chuyện kể dân gian, tục ngữ, thành ngữ, câu đố. Vì vậy, sách lá buông rất quan trọng trong việc giáo dục đạo đức và bảo tồn tiếng nói và chữ viết dân tộc Khơ Me.</p>
<p>* Tổ hợp số 10: Tập tục trong hôn nhân của các tộc người Môn &#8211; Khơ Me</p>
<p>Hôn nhân của các tộc người trong nhóm ngôn ngữ Môn &#8211; Khơ Me dựa trên nguyên tắc hôn nhân 1 vợ, 1 chồng. Trước đây, hôn nhân theo kiểu gả bán, mai mối, ngày nay trai gái tự do tìm hiểu và đi đến hôn lễ, nhưng phải tôn trọng luật tục. Tuy nhiên, từng dân tộc hôn nhân gia đình cũng có những đặc điểm khác nhau.</p>
<p>* Đám cưới dân tộc Khơ Me:</p>
<p>Người Khơ Me thường tổ chức đám cưới vào trước tết nguyên đán. Thời gian này, thời tiết khô ráo, mùa màng thu hoạch xong. Trước đây xã hội Khơ Me theo chế độ mẫu hệ, phụ nữ là người nắm giữ tất cả mọi quyền lợi trong gia đình, con sinh ra lấy theo họ mẹ. Trong đám cưới, phụ nữ phải đi cưới hỏi nam giới. Khi xã hội chuyển sang giai đoạn phụ hệ thì hôn lễ cũng có biến đổi. Sự biến đổi này được ghi dấu thông qua sự tích Ao Bà Om. Từ đó đến nay theo giao ước, phái nam phải đi cưới vợ về.</p>
<p>Hôn lễ cổ truyền của người Khơ Me gồm 4 bước:</p>
<p>Bước 1: Lễ nói, nhiều vùng còn gọi là lễ ăn trầu. Lễ này gần như lễ dạm ngõ của người Kinh. Sau khi đôi bên tìm hiểu, ướm lời, nhà trai tìm người làm mai mang theo các lễ vật: Bánh, trái cây, trầu cau&#8230; mỗi thứ đều là số chẵn đến nhà gái đặt vấn đề hôn nhân.</p>
<p>Bước 2: Lễ hỏi, nhà trai cùng ông mai đem lễ vật sang nhà gái gồm: Chuối, rượu, trà, trầu, đùi heo, gà, vịt và một số tiền, mỗi thứ đều phải đi theo cặp số chẵn. Trong lễ này họ cùng nhau thống nhất ngày cưới và thông báo cho người thân, hàng xóm biết hai bên đã chính thức là thông gia.</p>
<p>Bước 3: Lễ xin cưới. Trong lễ này, ngoài các lễ vật như lễ hỏi, nhà trai còn phải mang cho cô dâu đôi bông tai và nhẫn vàng.</p>
<p>Bước 4: Lễ cưới, diễn ra trong ba ngày. Ngày đầu tiên gọi là ngày nhập gia. Nhà trai làm lễ đưa chú rể sang nhà gái, đoàn đi mang theo lễ vật gồm trầu cau, rượu, thịt, và một mâm buồng bông cau. Nhiều đám cưới còn mời thêm dàn nhạc cổ truyền dân tộc đi kèm. Ngày thứ hai cử hành lễ cưới phải chọn giờ tốt. Trước tiên là cúng ông bà, tổ tiên và ăn trầu đính ước. Buổi chiều làm lễ cắt tóc cho cô dâu, chú rể. Rồi đưa họ đến miếu để cúng, xin thần công nhận cho họ là thành viên mới của phum sóc. Đến tối gia đình mời sư sãi, dâng cơm cho sư cúng, tụng kinh chúc phúc, dâng bánh trái cho cha mẹ cô dâu để nhớ công ơn dưỡng dục và mở tiệc đãi khách hai họ. Ngày thứ ba, thực hiện phong tục lạy ông bà, họ hàng. Đến giờ tốt cô dâu và chú rể, thắp đèn làm lễ. Thày cúng và ông mai làm lễ rắc hoa cau lên đôi trẻ. Tiếp đến là múa mở nắp mâm trầu và làm lễ buộc chỉ cổ tay cho cô dâu, chú rể, có kèm theo tặng phẩm tiền hoặc vàng cùng lời chúc mừng lứa đôi hạnh phúc.</p>
<p>Ngoài những nghi thức được quy định, lễ cưới Khơ Me còn là hình thức diễn xướng tổng hợp, trong đó ca hát đóng vai trò quan trọng với những bài ca điệu múa  phỏng theo chuyện cổ tích, nhằm chúc phúc lành cho đôi vợ chồng mới. Ngày nay, đám cưới dân tộc Khơ Me có phần đơn giản hơn, nhưng đồng bào Khơ Me vẫn giữ tục lệ mời sư sãi đến tụng kinh chúc phúc cho cô dâu, chú rể và hai bên gia đình. Đây là một truyền thống tốt đẹp của người Khơ Me theo đạo phật tiểu thừa.</p>
<p>* Tổ hợp số 11: Nghề dệt vải và trang phục các tộc người trong nhóm Môn &#8211; Khơ Me</p>
<p>Phụ nữ các dân tộc nhóm Môn &#8211; Khơ Me biết dệt vải từ sợi bông, để phục vụ nhu cầu vải mặc của cả gia đình và còn là một mặt hàng có giá trị tăng thêm thu nhập cho mỗi gia đình.</p>
<p>Khung dệt truyền thống của các dân tộc nhóm Môn &#8211; Khơ Me ở vùng Miền Trung &#8211; Tây Nguyên là khung dệt tấm phẳng. Khi dệt, người thợ ngồi bệt xuống sàn, mắc dây căng khung vòng qua lưng, cố định cho chặt, dùng mũi nhọn của thanh dập sợi lách vào hai lớp nhỏ của mặt sợi trên, dựng nghiêng để luồn con suốt cài sợi ngang qua lại. Mỗi lượt luồn ngang phải đảo go và thanh đảo sợi theo kiểu nâng lên hạ xuống rồi lật thanh dập sợi, dập mạnh về phía bụng để các sợi ngang khít nhau.</p>
<p>Trước đây trong mỗi gia đình đều có từ một đến vài khung dệt vải, số lượng khung nhiều hay ít là tuỳ thuộc vào số lượng nữ giới trong gia đình. Sản phẩm dệt của đồng bào không rực rỡ như sản phẩm dệt của một số tộc người ở vùng miền núi phía Bắc, nhưng sản phẩm làm ra hoàn toàn bằng phương pháp thủ công, phù hợp với điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển cũng như đời sống sinh hoạt của đồng bào.</p>
<p>* Trang phục các tộc người nhóm Môn &#8211; Khơ Me:</p>
<p>Trang phục các tộc người nhóm ngôn ngữ Môn &#8211; Khơ Me nhìn chung vẫn bảo lưu các yếu tố văn hoá truyền thống. Tuy nhiên mỗi tộc người, mỗi vùng cư trú, trang phục tộc người lại có cách tạo dáng và trang trí riêng.</p>
<p>+ Ở các tỉnh phía Bắc: Trang phục 5 tộc người Khơ Mú, Mảng, Kháng, Xinh Mun, Ơ Đu có sự giao thoa mạnh mẽ với văn hoá Thái. Trang phục phụ nữ Mảng độc đáo bởi cách trang trí búi tóc trên đỉnh đầu và chiếc tạp dề trắng thêu hoa văn quấn ngang ngực dài tới bắp chân. Trang phục phụ nữ Kháng, Xinh Mun đã tạo ra nét đặc biệt bởi số lượng cúc chẵn so với người Thái và hàng chỉ màu hai bên hò áo.</p>
<p>+ Trang phục 15 tộc người ở khu vực miền Trung &#8211; Tây Nguyên giống nhau trong cách cắt may, tạo dáng và các dải hoa văn ngang trang trí trên áo,váy và hai đầu khố.</p>
<p>Trang phục có sự khác biệt giữa nam và nữ. Đàn ông đóng khố, cởi trần, mùa lạnh khoác thêm tấm choàng. Phụ nữ mặc áo và váy. Một số nhóm dân tộc, mùa hè chị em mặc váy, mùa lạnh mới khoác thêm tấm choàng. Áo nữ cổ truyền là áo chui đầu, không có ve cổ, viền gấu bằng chỉ mầu. Có nơi chị em mặc áo dài tay, cổ chui, không có lá cổ. Cổ áo và váy thường là những hoa văn đỏ, vàng, trắng, xanh. Tuy nhiên, mỗi tộc người lại có cách trang trí khác nhau như: Phụ nữ Tà ôi, Cơ Tu dệt trang trí hạt cườm, còn các tộc người Mạ, Cơ Ho và Chơ Ro… dệt trang trí hoa văn hình học, hình động vật, hình người bằng các màu trên nền vải trắng.</p>
<p>+ Vùng Nam Bộ người Khơ Me lại có những đặc điểm riêng. Thường phục của phụ nữ Khơ Me giống người Kinh ở địa phương, kiểu y phục áo bà ba với chiếc khăn rằn vắt vai, đội đầu hay quàng cổ. Những dịp lễ tết, phụ nữ mặc áo dài quá gối, thân rộng, xẻ ngực, tay áo chật, hai bên sườn ghép thêm bốn miếng vải theo chiều dọc từ nách đến gấu áo. Ngày cưới,  chú rể mặc Xà Rông, áo cổ đứng màu đỏ, cài khuy trước ngực, cô dâu mặc áo dài màu đỏ thắm, quàng khăn trắng, đội mũ cổ truyền.</p>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>                            <!--codes_iframe--><!--/codes_iframe--></p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-4-cac-dan-toc-nhom-ngon-ngu-mon-kho-me/">Phòng trưng bày số 4: Các dân tộc nhóm ngôn ngữ Môn &#8211; Khơ Me</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-4-cac-dan-toc-nhom-ngon-ngu-mon-kho-me/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phòng trưng bày số 3: Văn hoá các tộc người nhóm ngôn ngữ H’mông &#8211; Dao, Ka Đai, Tạng Miến</title>
		<link>http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-3-van-hoa-cac-toc-nguoi-nhom-ngon-ngu-hmong-dao-ka-dai-tang-mien/</link>
					<comments>http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-3-van-hoa-cac-toc-nguoi-nhom-ngon-ngu-hmong-dao-ka-dai-tang-mien/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 11 Mar 2017 07:16:34 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Hệ thống trưng bày]]></category>
		<category><![CDATA[Trưng bày trong nhà]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://news.kit.com.vn/?p=346</guid>

					<description><![CDATA[<p>Phòng trưng bày số 3 giới thiệu về văn hoá 13 tộc người: Hmông, Dao, Pà Thẻn, La Chí, Cờ Lao, Pu Péo, La Ha, Hà Nhì, La Hủ, Cống, Si La, Phù Lá, Lô Lô, thuộc các nhóm ngôn ngữ Hmông – Dao, Ka Đai, Tạng Miến. Mỗi tộc người có nhiều nhóm địa [&#8230;]</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-3-van-hoa-cac-toc-nguoi-nhom-ngon-ngu-hmong-dao-ka-dai-tang-mien/">Phòng trưng bày số 3: Văn hoá các tộc người nhóm ngôn ngữ H’mông &#8211; Dao, Ka Đai, Tạng Miến</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<table class="Table1">
<tbody>
<tr>
<td class="Columns1" style="text-align: justify;"><span id="dnn_ctr484_ViewTintuc_View_Chitiet_lbl_Description" class="Text_Description">Phòng trưng bày số 3 giới thiệu về văn hoá 13 tộc người: Hmông, Dao, Pà Thẻn, La Chí, Cờ Lao, Pu Péo, La Ha, Hà Nhì, La Hủ, Cống, Si La, Phù Lá, Lô Lô, thuộc các nhóm ngôn ngữ Hmông – Dao, Ka Đai, Tạng Miến. Mỗi tộc người có nhiều nhóm địa phương như: H’mông hoa, H’mông trắng, H’mông đen, H’mông xanh, H’mông đỏ; Dao quần chẹt, Dao đại bản, Dao đỏ, Dao quần trắng, Dao thanh y, Dao lô gang, Dao áo dài, Dao làn tiển, Dao thanh phán&#8230;, Cờ Lao xanh, Cờ Lao trắng, Cờ Lao đỏ. Đồng bào cư trú ở hầu khắp các tỉnh miền núi và trung du miền Bắc, nhưng tập trung đông nhất ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu.</span></td>
</tr>
<tr style="text-align: justify;">
<td>
<div class="Columns1">
<p>* Nhóm ngôn ngữ H’mông &#8211; Dao có 03 tộc người : H’mông, Dao, Pà Thẻn</p>
<p>Tộc người H’mông có các nhóm: H’mông Trắng, H’mông Hoa, H’mông Đỏ, H’mông Đen, H’mông Xanh.Tộc người Dao có các nhóm: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang, Dao Tiền, Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y, Dao Làn Tiển. Mỗi nhóm có nhiều ngành nhỏ khác. Tộc người Pà Thẻn, di cư vào Việt Nam cách đây khoảng 200 – 300 năm</p>
<p>Nhóm ngôn ngữ Ka Đai gồm 04 tộc người: La Chí, Cờ Lao, Pu Péo, La Ha; Nhóm ngôn ngữ Tạng &#8211; Miến gồm có 06 tộc người : Lô Lô, Hà Nhì, La Hủ, Phù Lá, Cống, Si La</p>
<p>* Tổ hợp số 1: Làng bản, nhà cửa</p>
<p>Làng bản của cư dân H’mông &#8211; Dao, Tạng &#8211; Miến chủ yếu  được dựng trên các triền núi cao hay lưng chừng núi, khí hậu thoáng mát, nhưng hiếm nước và giao thông đi lại khó khăn. Một số ít cư dân: La Chí, Cống, Si La và một vài nhóm Dao dựng làng ven các con sông, con suối hoặc nơi có điều kiện dẫn nước về nhà.</p>
<p>Bản có 2 loại: Bản phân tán và bản tập trung. Số lượng nhà trong bản nhiều hay ít tuỳ thuộc điều kiện địa hình cụ thể và cuộc sống định canh định cư hay du cư của mỗi dân tộc.</p>
<p>Nhà ở các dân tộc nhóm H’mông &#8211; Dao, Ka Đai, Tạng &#8211; Miến có 3 loại: Nhà đất, nhà nửa sàn nửa đất và nhà  sàn.</p>
<p>Nhà đất thường thấy ở đại bộ phận nhóm H’mông &#8211; Dao, Tạng &#8211; Miến</p>
<p>Nhà sàn thường thấy ở nhóm Dao làm ruộng nước, một số ít nhóm Dao làm rẫy như: Dao Thanh Y, Dao áo Dài, một bộ phận Lô Lô, Phù Lá và đại bộ phận Cống, Si La.</p>
<p>Nhà nửa sàn nửa đất thường thấy ở 2 nhóm Dao vùng Trung du Bắc bộ, đồng bào La Chí và một bộ phận Lô Lô.</p>
<p>*Tổ hợp số 2: Kinh tế nông nghiệp</p>
<p>Các tộc người nhóm ngôn ngữ H’mông &#8211; Dao, Ka Đai, Tạng &#8211; Miến chủ yếu canh tác trên nương rẫy. Nương có 3 loại: nương cuốc, nương cày chiếm vị trí quan trọng, gắn liền với cuộc sống định canh, định cư của đa số các dân tộc trong cả 3 nhóm. Nương phát đốt gắn với cuộc sống du canh, du cư chỉ còn rải rác ở các nhóm địa phương. Đồng bào còn lợi dụng thế đất, tận dụng nương thổ canh hốc đá để canh tác. Trên nương, đồng bào trồng lúa, ngô, mạch ba góc, trồng rau, đậu, bầu bí, đỗ, dong giềng, cây thuốc, các loại cây ăn quả và cây công nghiệp.</p>
<p>Công cụ sản xuất chủ yếu cày, cuốc, các loại dao, rựa, rìu, thuổng, gậy chọc lỗ, nạo cỏ, nhíp. Cày của đồng bào vùng cao có thân ngắn, to, chắc khoẻ để phù hợp với các nương hốc đá. Cùng với canh tác nương rẫy, trong quá trình định cư, định canh cư dân vùng núi cao đã biết lợi dụng thế đất khai phá và đắp bờ tạo thành ruộng bậc thang để cấy lúa nước. Tuỳ thuộc vào thế đất mà đồng bào tạo ra ruộng bậc thang cao hay thấp, rộng hay hẹp. Vì vậy, có ruộng rộng 1m, có ruộng chỉ vài chục cm, có ruộng rộng 2 – 3 đường bừa, có ruộng chỉ có 1 đường bừa.Trong canh tác ruộng nước, đồng bào vùng cao còn biết tạo mương dẫn nước, làm đất kỹ, cày bừa nhiều lượt để diệt cỏ dại, tăng độ mầu cho đất, cho năng suất cao.</p>
<p>* Tổ hợp số 3: Săn bắt</p>
<p>Hái lượm, săn bắn nhằm cải thiện đời sống và bảo vệ mùa màng của cư dân vùng núi cao. Ngày nay, họat động này vẫn được duy trì, tuy nhiên không nhiều như trước kia. Đồng bào H’mông, Dao, Phù Lá, La Hủ rất giỏi săn bắn các loại thú nhỏ như lợn rừng, cầy hương, hươu nai, khỉ, cáo, chồn… Hầu hết đàn ông các tộc người đều biết chế tác các loại bẫy, nỏ. Một số người giỏi rèn, khoan, làm súng kíp, súng hoả mai, sáng chế các loại bẫy thú có hiệu quả. Ngoài ra đồng bào còn giỏi đánh bắt cá bằng nhiều hình thức: Ruốc, đặt chặn, đặt đó, lặn bắt cá bằng tay, dùng chài lưới…</p>
<p>* Tổ hợp số 4: Tập quán ăn uống của các tộc người nhóm H’mông &#8211; Dao, KaĐai, Tạng Miến.</p>
<p>Đa số đông bào trong nhóm Hmông &#8211; Dao, KaĐai, Tạng &#8211; Miến  thường ăn 2 bữa chính một ngày; bữa sáng và bữa tối, ngoại trừ một số nhóm Dao  coi bữa trưa và bữa tối là chính. Một số tộc người H’mông, Pu Péo, Lô Lô ăn “ mèn mén” ngô đồ là chính.</p>
<p>Ngô được xay thành bột nhỏ, nhào nước cho tơi xốp, đổ ngô vào chõ đồ chín, dỡ ra nia, xoa tơi, vẩy nước, trộn đều, sau đó đồ lại lần 2 cho chín dẻo.</p>
<p>Các tộc người khác trước đây ăn cơm nếp, nay ăn cơm tẻ, một số độn thêm ngô, sắn. Gạo nếp chỉ dùng để đồ xôi, làm bánh trong dịp lễ tết.</p>
<p>Thức ăn thường ngày gồm có: Măng, rau, đậu, bầu bí… Ngày tết có thêm thịt gà, dê, lợn, bò, cá… Món thịt, ngoài xào, nấu, luộc, đồng bào còn biết chế biến bằng cách phơi khô, sấy khói, ướp chua để ăn lâu dài. Thắng cố là món ăn đặc trưng của đồng bào vùng cao được hầm nhừ từ tổng hợp các loại thịt, xương, lòng của các loại gia xúc. Trong ngày chợ phiên, người H’mông còn có món bánh làm từ ngô non, xay thành thứ nước đặc quánh như sữa, sau đó làm thành bánh trôi hoặc bánh dợm.</p>
<p>Đồng bào thường uống rượu. Riêng nhóm Dao Thanh Y, Dao Tiền, Lô Lô, Phù Lá uống rượu hoẵng. Nước uống thường ngày là nước chè, lá vối, lá rừng. Họ hút thuốc lào bằng điếu, ở một số vùng đồng bào còn có tục ăn trầu.</p>
<p>* Tổ hợp số 5: Nghề mộc, nghề rèn</p>
<p>Hầu hết đàn ông các  tộc người H’mông, Dao, La Hủ… biết rèn dao, cuốc, thuổng… và sửa chữa nông cụ. Riêng kỹ thuật tôi thép của người H’mông, người La Hủ đạt trình độ cao. Người ta có thể khoan thép cây thành nòng súng kíp, nòng súng hoả mai.</p>
<p>Nghề làm đồ gỗ khá phổ biến trong đời sống của đồng bào H’mông, Cờ Lao. Chỉ bằng chiếc bàn xoay đơn giản, họ đã làm ra những đồ đựng và dụng cụ ăn uống bằng gỗ rất đẹp như: Muôi, thìa, bát, chậu…</p>
<p>* Tổ hợp số 6: Nghề đan lát</p>
<p>Việc dùng nguyên liệu tre, nứa, mây, trúc… tạo ra các đồ dùng sinh hoạt hàng ngày đã phát triển ở hầu hết các tộc người nhóm: Hmông &#8211; Dao, KaĐai, Tạng &#8211; Miến. Sản phẩm đan lát của người H’mông, Cờ Lao nổi tiếng với các sản phẩm đồ dùng gia đình: Nong, nia, cót, phên, bồ, gùi…</p>
<p>Nam nữ Cống, La Chí, Phù Lá đều biết đan gùi, đồ đựng thức ăn, đồ đựng quần áo, bằng mây tre đan cải hoa văn rất đẹp. Người La Hủ rất giỏi đan mâm cơm, ghế mây.</p>
<p>Nhìn chung sản phẩm đan lát của đồng bào không chỉ phục vụ cuộc sống tự cung, tự cấp mà còn trở thành mặt hàng trao đổi với các dân tộc láng giềng.</p>
<p>* Tổ hợp số 7: Nghề dệt vải, in hoa văn, thêu thùa</p>
<p>Các tộc người H’mông, Dao, Pà Thẻn, La Chí, La Ha, Phù Lá đều duy trì và phát triển nghề dệt vải,  đáp ứng phần nào vải mặc trong cuộc sống. Phụ nữ H’mông rất giỏi dệt vải bằng sợi cây lanh (ngoại trừ nhóm H’mông Xanh, H’mông Súa và Na Miẻo trồng bông dệt vải).</p>
<p>Phong tục người H’mông, khi người chết phải mặc áo ngoài bằng vải lanh linh hồn mới được về đoàn tụ với tổ tiên. Vì vậy, thiếu nữ từ 15 tuổi trở lên, mỗi người phải có nương lanh. Lanh thường được gieo trồng ở ven chân núi, trong các thung lũng vào khoảng tháng 4 âm lịch. Sau 3 &#8211; 4 tháng lanh được cắt thành bó đem về phơi khô trong khoảng 10 &#8211; 15 ngày. Sau đó tước lấy vỏ trước khi có gió mùa Đông Bắc, vì nếu gặp gió lạnh sợi lanh sẽ bị khô, giảm độ bền, rất dễ nát và khó nối.</p>
<p>Khi vỏ lanh bong ra, người ta chia thành từng chùm sợi nhỏ đều nhau, đem giã cho sợi mềm và xơ, sau đó tước từng sợi nối lại với nhau, cuộn thành cuộn to rồi ngâm nước tro bếp, luộc chín, giặt sạch, đun thêm một lần nữa với nước hoà sáp ong trong 4 &#8211; 5 giờ, vớt ra cho ráo nước, dùng đoạn gỗ tròn chà nhiều lần để sợi bóng và bền. Từ đó se thành sợi rồi đưa lên khung dệt. Phụ nữ H’mông đi đâu cũng mang vỏ lanh bên mình, lúc đi chợ hay lúc giải lao khi lao động trên nương rẫy… họ tranh thủ tước sợi, nối sợi. Trước khi đưa lên khung dệt, người ta dùng xa kéo thành các con sợi.</p>
<p>Vải đã dệt xong được nấu trong nước lọc tro bếp cho vải trắng, sau đó nấu sáp ong để hồ vải cho cứng, bóng mịn và đem nhuộm chàm.</p>
<p>Trong các gia đình người H’mông cũng đều có khung dệt. Mỗi năm một phụ nữ có thể dệt được từ 4 &#8211; 5 tấm vải lanh, mỗi tấm dài 20 vuông đủ may một bộ váy áo đẹp.</p>
<p>Công cụ in hoa văn đơn giản gồm có bút in bằng đồng to nhỏ khác nhau (có loại đường thẳng, đường diềm; có loại dùng tỉa hoa, lá; có loại chuyên dùng in hình tròn), các khung hình tam giác bằng tre, bát đựng sáp ong, chiếc mẹt làm giá kê để in.</p>
<p>* Kỹ thuật in:</p>
<p>Đun sáp ong nóng chảy, nhúng một cạnh khung hình tam giác hoặc bút vẽ vào sáp ong rồi in lên vải. Tuỳ kích thước đoạn thẳng dài hay ngắn mà chọn khung có cạnh tương ứng, nếu là hoa văn tròn người ta dùng ống nứa có tiết diện thích hợp. In xong, đem nhuộm vải nhiều lần cho đến khi vải sẫm mầu, người ta nhúng vải vào nước ấm làm sáp ong tan chảy, để lại những hoa văn màu xanh nhạt, trắng rất đẹp.</p>
<p>Thêu thùa trang trí hoa văn trên vải là nét văn hoá đặc sắc của phụ nữ H’mông &#8211; Dao. Họ có cách thêu độc đáo và khéo léo, tạo hoa văn không theo mẫu vẽ sẵn mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ và óc tưởng tượng. Kỹ thuật thêu thực hiện kim thêu trên mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Do đó trước khi thêu, người phụ nữ phải tính toán tỉ mỉ tới từng đường kim sợi chỉ, nhớ kích thước từng hoạ tiết trong toàn bộ mảng hoa văn, để tạo được tổng thể đồ án hoa văn có bố cục cân đối, hài hoà, mang tính thẩm mỹ cao trong trang phục của họ. Hoạ tiết hoa văn phổ biến là hình sừng trâu, con ốc, các hình chữ thập ngoặc và hình móc câu… gắn với cảnh quan thiên nhiên và quan niệm tộc người.</p>
<p>* Tổ hợp số 8: Tập tục cưới xin</p>
<p>Hôn nhân các tộc nguời  nhóm H’mông &#8211; Dao, Ka Đai, Tạng &#8211; Miến theo chế độ một vợ một chồng bền vững, ít có hiện tượng đa thê hay li dị. Dưới chế độ cũ, hôn nhân mang tính chất “gả”, “bán”, ngày nay trai gái tự tìm hiểu để kết hôn. Hôn nhân giữa những người cùng dòng họ bị ngăn cấm. Tập tục cưới xin của các tộc nguời cơ bản có nghi lễ : Đánh tiếng, dạm ngõ, hỏi, cưới. Tuy nhiên, tuỳ thuộc mỗi nhóm, mỗi tộc nguời có các nghi lễ cưới hỏi riêng.</p>
<p>Đối với tộc người Dao trai gái phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không mới tiến hành hỏi cưới. Lễ cưới thường diễn ra sau lễ hỏi một năm hay ngắn hơn tuỳ theo mỗi nhóm địa phương. Thời gian này cô dâu ở nhà dệt vải, thêu thùa, cắt may chuẩn bị của hồi môn. Riêng nhóm Dao Đỏ không có tục đón dâu. Cô dâu được cha mẹ, anh em họ hàng thân thích và đại diện nhà trai đưa, đón cô dâu về nhà chồng. Khi vào nhà trai làm lễ Tơ hồng (người Dao còn gọi là lễ “Hồng Toòng”), cô dâu phải trùm kín mặt bằng chiếc khăn đỏ, trang trí những núm bông nhỏ và gắn tua, bước qua một thau nước mà thầy cúng đã làm phép, khi nào làm lễ gia tiên xong  mới được bỏ  khăn ra. “Hồng Toòng” được dựng tại bàn thờ tổ tiên, giống chiếc cổng chào, dán giấy màu, câu đối. Thầy cúng vắt một dây hoặc những tua vải đỏ qua vai cô dâu, chú rể và đọc cuốn sách nói về cưới xin, làm ăn của người Dao, khấn vái gia tiên công nhận hai người thành vợ chồng.</p>
<p>* Tổ hợp số 9: Tục sinh đẻ</p>
<p>Phụ nữ các tộc người nhóm H’mông &#8211; Dao, Ka Đai, Tạng &#8211; Miến khi sinh con được sự giúp đỡ của bà mụ trong bản hay mẹ chồng, chị em gái chồng.</p>
<p>Trước và sau khi sinh con, sản phụ phải kiêng cữ nhiều điều. Khoảng thời gian ở cữ 1 tuần, đồng bào có các dấu hiệu báo cho người lạ không vào nhà như: nguời La Hủ úp chiếc nón  lên cọc trước cửa, nguời La Ha cài tấm phên đan mắt cáo, người La Chí cắm lá xanh trước cửa… với ngụ ý để giữ vía cho đứa trẻ mới sinh. Họ rất sợ người lạ có vía dữ vào nhà làm cho đứa trẻ quấy khóc, biếng ăn.  Khi đứa trẻ đầy cữ (1 tháng) họ mới gỡ bỏ những dấu hiệu đó đi.</p>
<p>Đồng bào có tục chôn nhau thai hoặc bỏ vào sọt treo lên cành cây với mong muốn đứa trẻ được mát mẻ, khoẻ mạnh…</p>
<p>* Tổ hợp số 10: Tập tục tang ma</p>
<p>Cư dân vùng núi cao đều quan niệm: chết đi là được “sống” ở thế giới bên kia.Vì vậy, trong tang ma, đồng bào tổ chức các nghi lễ phức tạp đưa linh hồn người chết về nơi “quê cha đất tổ”, về cõi cực lạc. Nghi lễ này còn có ý nghĩa “để vui với người thân lần cuối” và giảm sự đau khổ cho gia chủ. Một số tộc người: Dao, Pu Péo, Cờ Lao… có tục làm chay trong đám tang.</p>
<p>Nguời Lô Lô có tục làm lễ ma khô sau lễ ma tươi 13 ngày hoặc 3,5,7…năm sau, tuỳ theo điều kiện kinh tế của từng gia đình, để cho người chết được siêu thoát trở về với tổ tiên. Họ làm hình nhân, mặc trang phục truyền thống, tượng trưng cho người chết, bên cạnh còn có vải gửi cho người quá cố  bày dưới bàn thờ tổ tiên. Thầy cúng chuẩn bị rất nhiều tiền âm phủ, dùng các đạo cụ: thanh la, não bạt, kiếm, thẻ âm dương, trống đồng để giữ nhịp cho các điệu múa dân gian. Cùng với nghi lễ cúng mời tổ tiên đón nhận linh hồn người quá cố và lễ vật, mọi người đánh trống và nhảy múa đưa tiễn người chết về đất tổ ở thế giới bên kia. Trong lễ ma khô, người Lô Lô ở Mèo Vạc, Hà Giang ăn mèn mén, uống rượu và nhảy múa, hát ca những giai điệu truyền thống.</p>
<p>* Tổ hợp số 11: Lễ cấp sắc của người Dao</p>
<p>Một nghi lễ rất quan trọng của người Dao là lễ cấp sắc. Theo phong tục, tất cả đàn ông đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc 3 đèn. Những người làm thầy cúng còn thực hiện nhiều lần cấp sắc với số lượng đèn khác nhau 3 đèn, 7 đèn, 9 đèn… Đây là một nghi lễ vừa mang dấu ấn của tục thành đinh xa xưa, vừa mang tính chất của đạo giáo.</p>
<p>Lễ cấp sắc “tam linh” (3 đèn) của người Dao quần chẹt được tiến hành ngay trước bàn thờ tổ tiên. Trong nghi lễ này nhất thiết phải có bộ tranh thờ (“Tam thanh” “hành sư”, “hành phây”) đủ 24 tờ và các loại đạo cụ như: Đèn dầu dọc, gậy tầm xích, thẻ âm dương, tù và, trống, chuông đồng, nhạc sóc, lệnh bài, ghế đặt lợn cúng, ghế ngồi cho người được cấp sắc…</p>
<p>Người được cấp 3 đèn ngồi trên chiếc ghế nhỏ. Ba người thầy được mời đến làm lễ, đều đã qua lễ cấp sắc từ 7 đèn trở lên, có tuổi cao hơn người thụ lễ. Họ làm lễ dâng  đèn trước bàn thờ, rồi mỗi người thầy đặt một đèn lên người thụ lễ cấp sắc ở các vị trí khác nhau: Thày cả đặt lên đầu, thày thứ hai đặt lên vai phải, thày thứ ba đặt lên vai trái.</p>
<p>Người thụ lễ phải ngồi hàng giờ để chịu sức nóng của 3 ngọn đèn trong khi thày cúng đọc 2 đạo sắc kể về lai lịch của người được cấp sắc, để tâu sớ với tổ tiên và các thần thánh. Đọc xong, ông đốt một bản “âm” gửi cho tổ tiên, bản  “dương” dành cho người thụ lễ giữ lại, khi qua đời mang theo làm giấy thông hành về gặp lại tổ tiên ở thế giới bên kia.</p>
<p>* Tổ hợp số 12: Văn hoá chợ vùng cao</p>
<p>Sinh sống ở vùng núi cao giao thông đi lại khó khăn, đồng bào H’mông &#8211; Dao, Kađai, Tạng &#8211; Miến thường tự túc phần lớn nhu cầu cuộc sống, nên họ ít khi xuống núi. Thông thường 1-2 tuần, thậm chí cả tháng, các cặp vợ chồng mới xuống núi đi chợ 1 lần. Chợ thường họp vào chủ nhật, dòng người với trang phục đủ mầu từ khắp các nẻo đường đổ về chợ, người địu hàng, người dắt lợn, người dắt ngựa thồ, từng tốp 5 &#8211; 7 người men theo các lối mòn vắt quanh sườn núi rảo bước đến chợ.</p>
<p>Tại chợ phiên, đồng bào đem  bán đầy đủ các sản phẩm từ  gia súc, gia cầm, lâm thổ sản, đến các loại dược liệu… và họ mua các loại hàng hoá cần thiết phục vụ đời sống như: dầu, muối, chỉ thêu, thuốc lá, cuốc, dao, lưỡi rìu, nồi, bát đĩa, ấm chén…</p>
<p>Chợ không chỉ là nơi mua bán, trao đổi hàng hoá mà còn là nơi gặp gỡ của những người thân và nam nữ thanh niên; nơi vui chơi giải trí, nơi giao tiếp, học hỏi, thổi khèn, thổi sáo tìm bạn trăm năm. Họ mời nhau vào hàng ăn thắng cố, mèn mén, uống rượu say để quên đi những ngày lao động vất vả trước khi “lên núi trở về nhà”. Những người say được coi là giàu bạn, nên người vợ dân tộc H’mông có thể kiên nhẫn ngồi nối từng sợi lanh để chờ chồng mà không chút phiền muộn. Khi nào người chồng tỉnh rượu hai người mới ngược núi trở về nhà.</p>
<p>* Tổ hợp số 13: Thuốc nam chữa bệnh</p>
<p>Trong mỗi  tộc người nhóm ngôn ngữ H’mông, Dao &#8211; Kađai, Tạng miến đều có nhiều người biết tìm kiếm và bào chế cây thuốc nam (nhân trần, củ gấu, sa nhân, nấm linh chi, củ sâm&#8230;) để chữa bệnh. Trước đây, người lấy thuốc luôn giữ bí mật, sự linh nghiệm của cây thuốc, lặng lẽ vào rừng hái thuốc và chữa bệnh cùng với phép thuật riêng của riêng mình. Ngày nay, đồng bào đã biết nhân giống, trồng các loại cây thuốc quý như: Nấm linh chi, hoa hồi, củ sâm, để sử dụng, bán cho người dân quanh vùng và bán cho các hiệu thuốc lớn.</p>
<p>* Tổ hợp số 14: Văn học, âm nhạc nghệ thuật dân gian</p>
<p>Văn học dân gian của các  tộc nguời  nhóm H’mông &#8211; Dao, Ka Đai, Tạng &#8211; Miến đa dạng, phong phú về thể loại và nội dung, bao gồm: thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, sử thi, dân ca, tục ngữ, hò vè, câu đối… với nội dung ca ngợi tình yêu thiên nhiên, cuộc sống, ca ngợi tinh thần đoàn kết, chiến thắng bạo ngược, lên án chế độ cũ bất công, nêu lên nỗi khổ của những người làm tôi tớ, bảo vệ tình yêu đôi lứa và những phong tục tộc nguời.</p>
<p>Âm nhạc, nghệ thuật dân gian tộc ngườicó nhiều nét độc đáo với các nhạc cụ đa dạng như: khèn, sáo, đàn môi, kèn lá, đàn tròn, hồ, nhị, trống thường thấy ở người H’mông; Kèn loa, đàn tranh, sáo, tiêu, trống, thanh la, não bạt, chũm choẹ, tù và… thường thấy ở người Dao; khèn bè, đàn tày nhạy, sáo trúc của người Pà Thẻn; Trống, chiêng, đàn tính 3 dây, khèn, sáo dùng phổ biến ở cư dân La Chí và các tộc người nhóm Tạng &#8211; Miến. Trống đồng trước đây được dùng phổ biến trong đời sống của người Pu Péo, Lô Lô. Ngày nay chỉ tồn tại trong đám tang của người Lô Lô (gồm trống đực và trống cái) để đưa tiễn linh hồn người qúa cố về với tổ tiên.</p>
<p>Đồng bào thường tổ chức hát múa tập thể, các trò chơi dân gian như ném còn, đu thăng bằng, đu dây, thổi khèn, chơi cà kheo trong các dịp tết, hội xuân. Hát trong đám cưới, xin dâu giữa nhà trai và nhà gái kéo dài 3 &#8211; 4 giờ liền đã trở thành sinh hoạt văn nghệ độc đáo của nhiều tộc người. Trong đó phải kể đến tiếng hát làm dâu của người H’mông, hát “Ni ca” của người La Chí, các điệu múa của người La Hủ… rất đặc sắc.</p>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>                            <!--codes_iframe--><!--/codes_iframe--></p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-3-van-hoa-cac-toc-nguoi-nhom-ngon-ngu-hmong-dao-ka-dai-tang-mien/">Phòng trưng bày số 3: Văn hoá các tộc người nhóm ngôn ngữ H’mông &#8211; Dao, Ka Đai, Tạng Miến</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-3-van-hoa-cac-toc-nguoi-nhom-ngon-ngu-hmong-dao-ka-dai-tang-mien/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phòng số trưng bày 2: Văn hóa các cư dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày &#8211; Thái</title>
		<link>http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-so-trung-bay-2-van-hoa-cac-cu-dan-toc-nhom-ngon-ngu-tay-thai/</link>
					<comments>http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-so-trung-bay-2-van-hoa-cac-cu-dan-toc-nhom-ngon-ngu-tay-thai/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 11 Mar 2017 07:15:20 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Hệ thống trưng bày]]></category>
		<category><![CDATA[Trưng bày trong nhà]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://news.kit.com.vn/?p=342</guid>

					<description><![CDATA[<p>Các tộc người nhóm ngôn ngữ Tày &#8211; Thái có chung nguồn gốc lịch sử nằm trong khối Bách Việt xưa. Cư dân Tày &#8211; Thái cổ đã góp phần sáng tạo nền văn hoá bản địa ở vùng Nam Trung Quốc và Bắc Đông Dương, được gọi là văn hoá Nam á hay văn [&#8230;]</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-so-trung-bay-2-van-hoa-cac-cu-dan-toc-nhom-ngon-ngu-tay-thai/">Phòng số trưng bày 2: Văn hóa các cư dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày &#8211; Thái</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<table class="Table1">
<tbody>
<tr>
<td class="Columns1" style="text-align: justify;"><span id="dnn_ctr484_ViewTintuc_View_Chitiet_lbl_Description" class="Text_Description">Các tộc người nhóm ngôn ngữ Tày &#8211; Thái có chung nguồn gốc lịch sử nằm trong khối Bách Việt xưa. Cư dân Tày &#8211; Thái cổ đã góp phần sáng tạo nền văn hoá bản địa ở vùng Nam Trung Quốc và Bắc Đông Dương, được gọi là văn hoá Nam á hay văn minh Sông Hồng.</span></td>
</tr>
<tr style="text-align: justify;">
<td>
<div class="Columns1">
<p><img loading="lazy" class=" wp-image-344 aligncenter" src="http://news.kit.com.vn/wp-content/uploads/2017/03/Phong2-200x300.jpg" alt="" width="632" height="949" srcset="http://mcve.org.vn/wp-content/uploads/2017/03/Phong2-200x300.jpg 200w, http://mcve.org.vn/wp-content/uploads/2017/03/Phong2-280x420.jpg 280w, http://mcve.org.vn/wp-content/uploads/2017/03/Phong2.jpg 350w" sizes="(max-width: 632px) 100vw, 632px" /></p>
<p>Nhóm ngôn ngữ Tày &#8211; Thái có 8 tộc người: Tày, Thái, Nùng, Lào, Lự, Bố Y, Sán Chay, Giáy. Đồng bào cư trú tập trung ở các tỉnh như: Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An…</p>
<p>* Tổ hợp số 1: Cấu trúc làng bản của cư dân Tày &#8211; Thái.</p>
<p>Làng bản của các tộc người nhóm ngôn ngữ Tày &#8211; Thái thường dựng ở  thung lũng lòng chảo hay bên sườn đồi. Mỗi bản có từ  20 &#8211; 25 nóc nhà, những bản lớn có tới vài chục nóc. Nhà được dựng theo thế đất, dưới chân đồi, tựa lưng vào núí, mặt trước hướng ra đồng ruộng, sông suối, tiện cho việc sản xuất và đi lại. Mỗi bản có ranh giới cụ thể, có nguồn nước, ruộng đất, bãi tha ma riêng. Trong bản của người Tày, Nùng, Sán Chay thường có khuôn viên, vườn tược bao quanh các nhà. Bản của người Thái vùng Tây Bắc được dựng theo kiểu mật tập.</p>
<p>* Tổ hợp số 2: Góc nhà dân tộc Thái (Nhóm Thái đen)</p>
<p>Các tộc người nhóm ngôn ngữ Tày &#8211; Thái đều ở nhà sàn, nhưng ở mỗi tộc người lại có những đặc điểm riêng về kiểu dáng, kiến trúc và mặt bằng sinh hoạt trong ngôi nhà.</p>
<p>Trong không gian trưng bày, Bảo tàng trích đoạn một góc nhà sàn của người Thái (nhóm Thái Đen), huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La</p>
<p>Nhà người Thái Đen có kết cấu dạng mai rùa, kiểu kiến trúc truyền thống này gắn với một truyền thuyết. Xưa kia người Thái không biết làm nhà để ở, một đêm họ mơ thấy một con rùa về báo mộng và bảo rằng “Nhìn vào hình dáng tôi mà làm, bốn chân là bốn trụ cột chính đỡ nhà, vẩy rùa là ngói lợp”. Từ đó ngôi nhà sàn của người Thái Đen có hình dáng như chiếc mai rùa.</p>
<p>Nhà người Thái Đen làm bằng tre, nứa, gỗ, gianh, có hai mái chính chạy dọc và hai mái phụ chạy ngang, đầu hồi ngôi nhà trang trí hình khau cút.</p>
<p>Cửa sổ được trang trí hình vành trăng, liên quan đến lịch sử di cư của người Thái. Tiếp theo là kiểu trang trí mẹ con &#8211; Cha con theo cặp đối xứng, thể hiện ước mong có một gia đình đoàn tụ, hạnh phúc. Những chấn song hình răng bừa  là những tín hiệu biểu hiện cho sự sung túc, hạnh phúc của chủ nhân ngôi nhà.</p>
<p>Ngôi nhà sàn Thái bao giờ cũng có hai cầu thang, phía trước là cầu thang dành riêng cho con trai và khách là nam giới, gọi là (táng quản). Cầu thang phía sau dành riêng cho nữ giới, gọi là (táng chan).</p>
<p>Mặt bằng sinh hoạt trong nhà được bố trí chặt chẽ. Con trai lớn trước khi lấy vợ, ngủ ở vách phía sau Táng quản, được coi là nơi cư ngụ của thần, dành cho việc thờ cúng. Tiếp đến là chỗ ngủ của bố mẹ và con gái lớn. Vợ chồng trẻ bao giờ cũng nằm ở cuối dãy.</p>
<p>Nhà có hai bếp lửa, một đặt ở đầu táng quản dành để đun nước, sưởi ấm và tiếp khách nam. Một bếp đặt ở táng chan dùng tiếp khách nữ, nấu ăn và nấu cám lợn.</p>
<p>Trong mỗi góc buồng ngủ của người Thái được chủ nhà trang trí đẹp và ngăn nắp, với các sản phẩm dệt thổ cẩm như: chăn, gối, đệm, màn che. Thông qua góc buồng ngủ của người Thái phần nào thể hiện sự phát triển nghề trồng bông dệt vải của người Thái. Trước đây, phụ nữ Thái phải biết trồng bông dệt vải mới có quyền lấy chồng và nuôi con. Vì vậy, từ khi 12-13 tuổi các cô gái phải tập làm quen với công việc thêu thùa, dệt vải, đến khi trưởng thành có thể dệt mọi sản phẩm cần thiết phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của gia đình. Theo phong tục người Thái khi đi lấy chồng, con gái vẫn phải mặc trang phục truyền thống và mang theo về nhà chồng rất nhiều của hồi môn, chủ yếu là sản phẩm dệt: Gối, chăn, đệm&#8230;</p>
<p>Người phụ nữ Thái luôn gọn gàng và chăm chút chỗ ăn, chỗ ngủ cho từng thành viên trong gia đình. Khi có khách đến chơi nhà ngủ qua đêm, bên bếp lửa hồng, người đàn ông ngồi tiếp khách, người phụ nữ đã chuẩn bị chọn bộ chăn, gối đẹp nhất, ủ ấm trước rồi mới mời khách nằm nghỉ. Lâu dần, tập tục này đã trở thành nét đẹp văn hoá truyền thống đậm nét nhân văn.</p>
<p>* Tổ hợp số 3: Góc bếp sinh hoạt dân tộc Tày.</p>
<p>Trong ngôi nhà sàn truyền thống của người Tày bao giờ cũng có 2 bếp lửa, một bếp ở gian ngoài để sưởi ấm, đun nước, tiếp khách và một bếp ở gian trong để nấu ăn.</p>
<p>Bếp nấu ăn đặt gần chỗ để nước, tiện cho việc nấu nướng. Khung bếp làm bằng gỗ sồi, kén hay táu mật. Trên mỗi  bếp có thể bắc 2 kiềng, để vừa nấu ăn và nấu cám lợn. Khi trong nhà có việc hiếu, hỷ hay có khách, một kiềng nấu nướng thức ăn, một kiềng xôi cơm.</p>
<p>Bếp lửa rất quan trọng với người Tày. Vì vậy, khi làm xong nhà đồng bào rất coi trọng việc vào nhà mới. Sau những nghi lễ cúng thần linh, tổ tiên, chủ nhà nhất thiết phải mang một số vật tượng trưng: lọ dấm, hũ mẻ, bình vôi&#8230; dọn về nhà mới.</p>
<p>Người Tày còn có tục giữ lửa bằng 2 cây củi to, dài ủ suốt ngày đêm tại bếp. Mỗi khi nấu chỉ cần một que đóm mỏng, một chiếc ống thổi, lửa sẽ bùng lên. Đêm 30 tết, người ta thay 2 thanh củi dài giữ lửa làm sao cho hết tháng giêng vẫn chưa cháy hết. Khi đặt cây củi ủ lửa vào bếp, chủ nhà còn buộc vào cây dài nhất một chiếc bánh nẳng và thắp một nén hương để gửi gắm ước muốn về sự no đủ, may mắn, đồng thời biết ơn ngọn lửa suốt năm, suốt đời chung thuỷ với con người để mời bếp lửa vui tết với cả nhà.</p>
<p>Sau những giờ lao động mệt nhọc, các thành viên trong gia đình ngồi quây quần bên bếp lửa, trò chuyện, bàn bạc công việc gia đình, chị em ngồi bên bếp lửa tranh thủ quay sa kéo sợi dệt vải</p>
<p>Hình ảnh cô gái Tày duyên dáng đang quay sa kéo sợi bên bếp lửa hồng là công việc thường xuyên vào các buổi tối. Vào dịp lễ tết, khách đến chơi nhà còn được thưởng thức món cơm lam thơm, dẻo, thắm đượm tình người.</p>
<p>* Tổ hợp số 3: Nghề thủ công truyền thống nhóm Tày &#8211; Thái.</p>
<p>Do nền kinh tế mang tính chất tự cung, tự cấp đã tạo điều kiện cho các nghề phụ gia đình phát triển. Đồng bào đã tự tay làm ra mọi sản phẩm cần thiết để phục vụ cuộc sống trong gia đình từ việc trồng bông, kéo sợi, dệt vải, đan lát, rèn đúc, nghề gốm đến nghề mộc.</p>
<p>+ Nghề rèn Nùng An:</p>
<p>Nghề rèn truyền thống của đồng bào Nùng có kỹ thuật khá cao. Sản phẩm rèn đúc không chỉ được đồng bào Nùng chuyên dùng, mà hầu hết các dân tộc lân cận đều ưa chuộng. Nghề rèn đúc phát triển nhất là ở nhóm  Nùng An ở Phúc Xen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng. Với bàn tay khéo léo của những người  thợ rèn cùng với những công cụ giản đơn  như bễ, đe, kìm kẹp và búa rèn&#8230; đồng bào Nùng đã tạo ra các loại sản phẩm cần thiết  phục vụ cho đời sống của mình. Sản phẩm rèn của người Nùng An gồm đồ gia dụng và công cụ sản xuất với hơn 20 chủng loại khác nhau, nhưng phổ biến và thông dụng hơn cả vẫn là các loại công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của đồng bào trong vùng như: Dao, cuốc, liềm, nhíp, hái, xẻng&#8230;</p>
<p>+ Nghề gốm của người Thái</p>
<p>Trước đây, nghề gốm truyền thống của đồng bào Thái ở nhiều nơi như: Thuận Châu, Chiềng Cơi, Hua La và Mai Sơn (Sơn La). Hiện nay, ở những nơi này nghề gốm đã mai một, chỉ có người Thái ở Mường Chanh, huyện Mai Sơn còn duy trì nghề gốm.</p>
<p>Nguyên liệu làm gốm ở Mường Chanh chủ yếu là đất sét màu trắng nhạt, xanh đen, vàng, rất mịn và dẻo nên không qua công đoạn sử lý hoặc pha trộn thêm cao lanh. Công cụ tạo hình gốm của người Thái là bàn xoay bằng thớt gỗ tròn, đường kính 39 đến 40 cm, cao 19 đến 20 cm, úp trên một trụ gỗ chôn chặt xuống nền đất.</p>
<p>Nung gốm là khâu then chốt nhất trong quá trình sản xuất gốm của người Thái ở Mường Chanh, nó quyết định chất lượng sản phẩm. Mỗi gia đình ở Mường Chanh đều tự làm lấy lò nung gốm. Người ta chọn chỗ đất cứng hay những chỗ đất phong hóa để đào lò, tiết kiệm củi đốt, sản phẩm chín tốt hơn và vào mùa mưa không bị sập.</p>
<p>Sau đó, họ dùng cuốc, xẻng khoét vào sườn đồi theo kiểu lò hầm, hình dáng mu rùa (cao ở giữa và thấp dần ra xung quanh). Đáy lò dốc nghiêng, thấp dần từ ống khói ra phía cửa lò.</p>
<p>Sản phẩm nghề gốm của người Thái Mường Chanh khá phong phú, gồm hơn 10 loại với nhiều hình dáng, kích cỡ khác nhau, chủ yếu là gốm gia dụng như: chum, bình có quai, nồi nấu cách thủy, chày cối dùng để nghiền gia vị, mõ để đeo trâu, bò&#8230; Bên cạnh gốm gia dụng, các lò gốm ở Mường Chanh cũng sản xuất một số gốm mỹ nghệ, các con giống như: Trâu, bò, ngựa, lợn, gà, vịt, cua, cá&#8230; Người Thái Mường Chanh còn sản xuất một số đồ gốm có giá trị như: Chum to, lọ cổ nhỏ được dùng làm của hồi môn cho con gái đi lấy chồng.</p>
<p>Gốm của người Thái Mường Chanh thuộc loại gốm trơn, không tráng men, ít tinh xảo và thậm chí có phần hơi thô, nhưng vẻ đẹp của nó lại toát lên chính nhờ sự thô ráp, mộc mạc đó. Gốm Mường Chanh có nhiều ưu điểm: Nhẹ hơn, khó vỡ hơn và cũng ít bị rò rỉ hơn so với các nơi khác</p>
<p>Ở Mường Chanh, tất cả các thành viên trong gia đình từ già đến trẻ đều có thể tham gia làm gốm. Đàn bà con gái và trẻ em có thể tham gia khai thác nguyên liệu, gia công nguyên liệu, quay bàn xoay&#8230; Còn đàn ông phụ trách các khâu quan trọng như: tạo hình sản phẩm, xếp gốm vào lò, nung.</p>
<p>+ Nghề dệt:</p>
<p>Vốn là cư dân nông nghiệp lâu đời, các tộc người nhóm ngôn ngữ Tày- Thái đều trải qua một thời kỳ dài trong nền kinh tế tự  túc, tự cấp. Ngoài trồng trọt  và chăn nuôi, các nghề phụ gia đình như mộc, rèn, đan lát cũng phát triển để đáp ứng nhu cầu ăn, mặc ở và đồ dùng cần thiết cho gia đình. Trong đó, dệt vải truyền thống được coi là thế mạnh của cư dân vùng thung lũng. Mọi nhà đều tự trồng bông kéo sợi dệt vải. Nhà nào cũng có công cụ dệt vải: Cán bông, sa kéo sợi, khung cửi. Nhiều gia đình còn có tới hai ba bộ khung dệt vải. Để có một tấm vải, chị em phải thực hiện rất nhiều công đoạn như trồng bông, cán bông, bật bông, quấn cúi bông, se sợi, hồ sợi, nhuộm sợi, dàn sợi, lên go, mắc cửi và dệt vải.</p>
<p>Việc dệt vải được chị em làm trong những lúc nông nhàn, nên để dệt được  một tấm vải phải mất hàng tháng, còn vải thổ cẩm phải mất 5 đến 6 tháng. Họ không chỉ dệt vải để phục vụ bản thân, gia đình mà còn đem trao đổi với bên ngoài.</p>
<p>* Tổ hợp số 4: Canh tác nông nghiệp</p>
<p>Cư trú ở vùng thung lũng, có điều kiện tự nhiên thuận lợi, nơi có nhiều cánh đồng màu mỡ, đồng bào nhóm ngôn ngữ Tày &#8211; Thái đã sớm phát triển nông nghiệp ruộng nước kết hợp với nương rẫy. Kinh nghiệm và kỹ thuật canh tác đạt đến trình độ khá cao. Đồng bào tuân thủ chặt chẽ nông lịch để gieo trồng, sử dụng cày bừa trong khâu làm đất. Đồng bào đã sáng tạo và hoàn thiện các công trình thuỷ lợi phù hợp với địa thế của ruộng. Họ có nhiều kinh nghiệm trong việc be bờ, đào mương, đắp phai, bắc ống dẫn nước về ruộng, đặc biệt là việc sử dụng chiếc cọn nước để “dẫn thuỷ nhập điền”.</p>
<p>Cọn nước được làm bằng những cây vầu nhỏ, gỗ, lợi dụng sức nước ngăn dòng, tạo áp lực, tác động cho guồng quay. Khi cọn quay, các ống tre gắn xunh quanh vành cọn sẽ múc nước từ dưới suối lên đổ vào hệ thống mương máng dẫn nước về ruộng.</p>
<p>Trên nương rẫy, cư dân Tày, Thái phổ biến canh tác theo phương thức phát, đốt, trồng trỉa. Mùa thu hoạch, họ dùng nhíp hái từng bông lúa, bó thành cum, mang về, để lên gác bếp. Khi ăn, họ mang cum lúa xuống vò tách hạt và giã thành gạo.</p>
<p>Công cụ thu hoạch lúa gồm có liềm, hái, nhíp, các dân tộc Tày, Nùng, Thái, Lào còn sử dụng loóng để đập lúa ngay tại ruộng. Loóng có hình dáng giống như chiếc thuyền độc mộc, nhưng ngắn hơn. Khi đập lúa, người ta đập trên hai đầu của loóng, có phên che hai bên chắn thóc không bắn ra ngoài.</p>
<p>Loóng đập lúa là một công cụ lao động sản xuất mà cư dân miền núi, phản ánh trình độ canh tác và sự ứng xử phù hợp với điều kiện môi trường.</p>
<p>Ngoài lúa, họ còn trồng ngô, rau, đậu, bầu bí và các loại hoa màu để cải thiện đời sống.</p>
<p>+ Khai thác nguồn lợi tự nhiên.</p>
<p>Cư trú gần các con sông, khe suối, cư dân Tày &#8211; Thái còn phát triển đánh bắt cá để cải thiện bữa ăn thường ngày. Các loại dụng cụ đánh bắt truyền thống chủ yếu là đơm, đó, rọ nhử…Ngày nay, đồng bào còn dùng chài lưới để đánh bắt cá.</p>
<p>* Phương tiện vận chuyển:</p>
<p>Xuất phát từ điều kiện cư trú vùng thung lũng, nơi có những khe suối, những dòng sông và hồ lớn. Cư dân Tày &#8211; Thái đã tạo cho mình những phương tiện vận chuyển phù hợp với từng địa thế khác nhau. Với những con đường mòn men theo các sườn dốc, đồng bào dùng dậu gánh để tránh va quệt. Dậu gánh có nhiều loại với nhiều chức năng khác nhau dùng trong lao động sản xuất. Loại dùng vận chuyển nông sản như rau, củ, quả thường đan lóng thưa với hoa văn mắt cáo. Loại  dùng vận chuyển các loại hạt thường được đan các nan đan khít nhau. Ngoài ra dậu còn là của hồi môn cho cô dâu về nhà chồng bao giờ cũng có nắp, được đan cải hoa văn đẹp.</p>
<p>Những vùng gần sông nước, lợi dụng dòng chảy, cư dân nơi đây dùng thuyền độc mộc đi lại và vận chuyển hàng hoá.</p>
<p>Chiếc thuyền đuôi én trưng bày tại Bảo tàng, của gia đình ông Lù Văn Pấc, Bản Hậu, xã Chiềng Bằng, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La</p>
<p>* Tổ hợp số 5: Lễ hội  Lồng tồng</p>
<p>Cứ mỗi độ Tết đến xuân về, các tộc người nhóm ngôn ngữ Tày &#8211; Thái lại tưng bừng mở hội đón xuân để tạ ơn thần đã phù hộ cho mùa màng bội thu, cuộc sống tốt lành, đồng thời cầu xin thần năm mới cho mùa màng tươi tốt, cuộc sống bình an, con người khoẻ mạnh. Cầu mùa, cầu an, cầu phúc, cầu sự bình yên&#8230;</p>
<p>Một trong những lễ hội lớn mang bản sắc tộc người, đó là lễ hội Lồng tồng.</p>
<p>Lồng tồng, theo tiếng Tày &#8211; Nùng là hội xuống đồng, được tổ chức vào dịp đầu xuân năm mới khoảng mùng 3 tết  thời gian bắt đầu của một mùa sản xuất mới.</p>
<p>Địa điểm tổ chức hội thường diễn ra trên một thửa ruộng rộng Tổng (gọi là nà Lồng &#8211; ruộng xuống đồng) của một làng có dân số đông tập trung. Hay trước đền, miếu của làng có đền thờ thần nông, có miếu thờ thổ công.</p>
<p>Lễ hội gồm hai phần: Phần lễ và phần hội.</p>
<p>Phần Lễ: là nghi thức đầu tiên, thiêng liêng và quan trọng nhất. Các gia đình chuẩn bị một mâm cỗ gồm có: gà trống thiến, thịt lợn quay, rượu, xôi, bánh bỏng, cúng tạ ơn thần nông và cầu mùa tại ruộng hay trước miếu. Sau đó, họ đón một lão nông làm ăn giỏi trong vùng hạ một đường cày tượng trưng.</p>
<p>Phần hội: Là phần chính của lễ hội lồng tồng để du khách thập phương đến xem và tham dự các trò chơi, trò diễn dân gian truyền thống: như múa lân, kéo co, đấu võ, tung còn, hát Sli, hát Lượn&#8230;..và điển hình là trò chơi tung còn, một  hoạt động không thể thiếu trong lễ hội. Đây là trò chơi dân gian mang đậm dấu ấn tín ngưỡng phồn thực, thể hiện rõ quan niệm âm dương của cư dân Nam á.</p>
<p>Bãi chơi còn là một khu đất bằng phẳng, người ta trồng ở giữa ruộng một cây còn cao từ 15 &#8211; 20m, trên ngọn uốn thành vòng tròn có đường kính 50-60cm tượng trưng cho bầu trời còn gọi là phỏng còn. Có nơi vòng tròn được dán kín bằng một tờ giấy hồng tượng trưng cho sự trong trắng của người thiếu nữ đến tuổi trưởng thành.</p>
<p>Quả còn hình vuông tượng trưng cho mặt đất được khâu ghép bằng nhiều mảmh vải khác màu, tượng trưng cho ngũ phương, bên trong nhồi hạt thóc, hoặc hạt bông, tượng trưng cho sự sống, quả còn có tua dài bằng vải ngũ ngũ sắc.</p>
<p>Có hai hình thức tung còn:</p>
<p>Cách thứ nhất: Tung còn mang tính lễ nghi, lối tung còn này đòi hỏi người chơi phải có sức khoẻ, có kỹ thuật và chỉ cần tung thủng vòng tâm là được. Đồng bào quan niệm, nếu không có ai tung thủng hồng tâm của phỏng còn thì năm đó âm dương không hoà hợp, không có mưa thuận gió hoà, năm đó sẽ mất mùa đói kém. Bởi vậy trong ngày hội ai tung thủng hồng tâm đầu tiên được coi là ngôi sao sáng trong năm, mọi người thán phục và được lĩnh phần thưởng của làng.</p>
<p>Cách thứ hai: Tung còn giao duyên, những người chơi đứng thành hai bên giữa các làng với nhau, một bên nam, một bên nữ. Đích của quả còn lúc này không nhất thiết phải trúng phỏng còn, mà họ tung cho nhau bắt còn. Nếu bên nào để còn rơi xuống đầt nhiều lần là thua cuộc. Nếu ai tung còn được bạn tình bắt được sẽ hứa hẹn về tình yêu đôi lứa tốt đẹp. Qua buổi tung còn nhiều đôi trai gái đã kết bạn và đi tới hôn nhân. Vì vậy, các nhà dân tộc học nói hội tung còn là “ngày giải toả tâm linh và cân bằng sinh thái”.</p>
<p>Kết thúc cuộc chơi, người chủ trì lễ hội cũng là người khép hội cầu mùa bằng việc dùng dao rạch quả còn và ban phát những hạt giống cho mọi người.</p>
<p>Đồng bào quan niệm, những hạt giống này là hạt giống thiêng sẽ đâm trồi nẩy lộc nhanh chóng. Vì nó được truyền hơi ấm của những bàn tay nam nữ( âm &#8211; dương). Mọi người ai cũng vui vẻ đón nhận, với niềm hy vọng vụ mùa tới sẽ bội thu.</p>
<p>* Điệu múa xoè các tộc người Thái, Lào, Lự</p>
<p>Xoè là một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian vốn có từ rất lâu đời của tộc người Thái, Lào, Lự, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nó là món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào. Xoè quan trọng đối với các tộc người Thái, Lào, Lự cũng giống như làn điệu then, câu hát lượn của người Tày &#8211; Nùng.</p>
<p>Vào dịp lễ tết, hội hè, mừng nhà mới&#8230;không thể thiếu những điệu múa xoè của cộng đồng như: Xoè quạt, xoè khăn, xoè nón, xoè bướm, xoè đèn&#8230;</p>
<p>Phụ nữ Thái múa xoè bao giờ cũng gọn gàng, duyên dáng trong bộ váy đen, thắt lưng xanh, áo cóm cùng đôi hàng cúc bướm, chiếc khăn piêu sặc sỡ và các loại trang sức như; vòng tay, xà tích&#8230;</p>
<p>Nghệ thuật múa xoè dân gian mang đậm nét văn hoá tộc người, đã đi vào kho tàng văn nghệ dân gian Việt Nam và đóng góp đáng kể vào công cuộc xây dựng đời sống văn hoá của dân tộc.</p>
<p>* Tổ hợp số 7: Tôn giáo tín ngưỡng của các tộc người nhóm ngôn ngữ Tày &#8211; Thái</p>
<p>Hầu hết các tộc người nhóm ngôn ngữ Tày &#8211; Thái đều không theo một tôn giáo chính thống, mà chịu ảnh hưởng của tam giáo (Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo).</p>
<p>Là cư dân nông nghiệp, sống phụ thuộc vào thiên nhiên nên đồng bào tin vào thuyết vạn vật hữu linh, mọi vật đều có linh hồn. Trong các làng bản của đồng bào có một tầng lớp người gọi chung là: “Thầy” (Mo, Then, Tào, Pụt). Họ cho rằng, các thầy này được thần linh, thượng đế ban cho họ để thực hiện nhiệm vụ truyền chỉ và giúp dân giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong cuộc đời bằng các nghi lễ cúng bái.</p>
<p>Các tộc người Tày, Nùng, Sán Chay cho rằng: Cả 4 chức sắc tâm linh Tào, Mo, Then, Pựt đều là con cháu của Ngọc Hoàng Thượng Đế. Trong đó, thày Tào là anh cả, Mo &#8211; thứ hai, Pựt &#8211; thứ ba và Then là em út. Ngọc Hoàng Thượng Đế giao cho các con đi cứu nhân độ thế, trị bệnh cứu người.</p>
<p>Trong phần trưng bày tôn giáo tín ngưỡng các tộc người nhóm ngôn ngữ Tày &#8211; Thái, Bảo tàng giới thiệu một nghi thức trong lễ “lẩu then” của người Tày, Nùng ở Lạng Sơn.</p>
<p>Lẩu then hay còn gọi là “Lẩu pựt”, được tổ chức vào tháng Hai, tháng Ba âm lịch. Lẩu then còn là một nghi lễ mang tính tôn giáo được tổ chức với ý nghĩa nhà then mang lễ vật đi tiến cống Ngọc Hoàng theo thông lệ hàng năm, khi gia đình nhà ai có người ốm đau hoặc cầu yên giải hạn phải mời bà then về nhà làm lễ chữa bệnh, cầu yên, giải hạn.</p>
<p>Các bà then thường là nữ. Họ là nghệ nhân vừa đàn, vừa hát. Trang phục làm then, gồm có: áo, mũ làm then, đi giầy vải đỏ hoặc xanh. Bộ đồ làm then gồm: Dấu ấn, chuông đồng, nhạc sóc, quạt giấy, túi vóc, khăn đệm nhạc sóc và không thể thiếu một cây đàn tính và nhiều nghi trượng như cây bông, cầu âm dương, cây chuối, nhà hoa, nhà long đình, nhà hạn&#8230; để tạo ra không gian của một thế giới theo trí tưởng tượng của con người.</p>
<p>Lẩu then là nghi lễ trang trọng nhất trong sinh hoạt văn hoá then, là ngày hội của các bà then, mấy năm mới tổ chức một lần.</p>
<p>+ Dụng cụ hành lễ của thầy cúng:</p>
<p>Trong tổ hợp trưng bày tín ngưỡng dân gian, Bảo tàng còn giới thiệu một bộ sưu tập đạo cụ của thầy cúng dân tộc Nùng Phàn slình.</p>
<p>Khi hành lễ, ngoài mũ, áo, thầy cúng  còn  sử dụng các đạo cụ mà họ cho rằng ở đó có dấu ấn và sự chi phối của thần linh như: Dấu ấn Tam bảo do Ngọc Hoàng ban cho thầy cúng để đóng dấu các tờ sớ gửi lên thiên đình trong các nghi lễ cúng đám ma, đám chay. Ngọc Hoàng nhìn thấy dấu mới ghi nhận và phù hộ cho con cháu được mạnh khoẻ, mùa màng bội thu. Tuy nhiên, chỉ có các thầy cúng cao tay mới được cấp dấu và được phép đóng dấu vào các tờ sớ.</p>
<p>Chó gỗ, được coi là chó trời có nhiệm vụ bảo vệ thầy cúng khi thầy tiến hành mọi nghi lễ trong đám ma, giữ cho ma quỷ không đến quấy phá.</p>
<p>Chuông gõ, dùng để thỉnh Ngọc Hoàng, thần linh về khi cúng, dành cho các thầy cúng cao tay, có chức sắc trong cộng đồng.</p>
<p>Kiếm, dùng chém ma quỷ khi chúng đến quấy phá việc cúng lễ.</p>
<p>Não bạt, dùng để báo cho mọi người biết có đám ma,đồng thời gọi các vong nhân, hồn ma về dự hội làm cho người chết được vui vẻ.</p>
<p>Chuông lắc, dùng để tạo âm thanh cho vong linh người quá cố được vui khi gặp tổ tiên, đồng thời động viên gia đình, con cháu được yên lành</p>
<p>Lệnh bài, dùng để xin lệnh trời thực hiện đám cúng, đồng thời thỉnh bái, báo cho thánh biết dưới trần gian có việc cúng lễ.</p>
<p>Thẻ âm dương, là tín vật để nhận biết sự chứng giám của thần linh.Thông thường khi cầu xin Ngọc Hoàng và thần linh một việc gì đó, nếu xin cả hai đều ngửa (dương) có nghĩa là thần linh cười hay mắng. Nếu cả hai úp (âm) hay một mặt dương, một mặt âm là được.</p>
<p>Kèn: dùng để thổi trong đám ma, báo hiệu cho dân làng biết nhà có người chết, đồng thời cũng là vật khóc người quá cố thay cho con cháu trong gia đình.</p>
<p>+ Tranh thờ thập điện Diêm vương của người Tày, Nùng.</p>
<p>“Thập Điện Diêm Vương” là bộ tranh thờ được dùng trong các nghi lễ tang ma của thày Tào các dân tộc Tày, Nùng, Sán Chay. Mỗi khi gia đình có người chết, ngoài việc lập bàn thờ của thầy cúng, treo tranh Tam Thanh, nhất thiết phải có tranh thờ “Thập điện Diêm Vương” và “ Phá ngục” để thày Tào thực hiện nghi lễ cúng dẫn độ linh hồn người chết vượt qua 10 cửa điện về với tổ tiên.</p>
<p>Bộ tranh “Thập Điện Diêm Vương” gồm mười bức, miêu tả 10 vị vương cai quản âm phủ. Mỗi vị đứng đầu một điện để xét xử công tội những người mới chết. Người ta tin rằng sau khi chết, linh hồn bị quỷ vô thường đón linh hồn người chết dẫn tới trước điện diêm vương thứ nhất thuộc quyền của Tần Quảng Vương. Tại đây, có sổ sách ghi đủ về tuổi thọ, xem từ trần có đúng kỳ hạn hay không. Sau đó sẽ tra đến sổ sách ghi rõ điều phúc đã  làm, điều ác đã gây ra lúc sống ở trên đời, để định công và tội. Tại đây có gương nghiệt kính đài: cân phúc, cân tội, ai có phúc thì được hưởng, có tội sẽ bị trừng phạt qua 8 cửa ngục, bắt đầu từ cửa nhị điện Sở Giang Vương đến tam điện Tống Đế Vương, tứ điện Ngũ Quan Vương, Ngũ Điện Diêm La Vương, Lục Điện Biện Thành Vương, Thất điện Thái Sơn Vương, Bát Điện Bình Đẳng Vương, Cửu Điện Đô Thị Vương, để đầu thai kiếp khác tại cửa ngục thứ mười của Chuyển Luân Vương.</p>
<p>Như vậy nội dung các bức tranh đã phản ánh rất rõ quan điểm khuyến thiện, trừng ác theo giáo lý nhà Phật, có tác dụng giáo dục, đạo đức, nhân cách, hướng tới cái thiện của nhân gian.</p>
<p>+ âm nhạc dân gian nhóm Tày &#8211; Thái.</p>
<p>Nhạc cụ của các tộc người trong nhóm  ngôn ngữ Tày &#8211; Thái độc đáo và đặc sắc. Tiêu biểu nhất phải kể đến cây đàn tính của người Tày, trống Tang sành của người Sán Chay, Khèn bè của các tộc người Thái, Lào, Lự. Ngoài ra, còn có nhị, thanh la, não bạt, chuông, trống dùng trong các nghi lễ cúng và tang ma tộc người.</p>
<p>+ Rối cạn của người Tày ở Thẩm Rộc, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên:</p>
<p>Múa rối Thẩm Rộc thuộc loại hình rối que. Thông thường, phường rối có 12 thành viên điều khiển con rối bằng que tre, dây có sự hỗ trợ của âm nhạc. Con rối được hóa trang giống như những nhân vật sân khấu, các tích trò đều có lời đọc để diễn giải. Rối cạn được trình diễn chủ yếu để mua vui và giáo dục. Nội dung của các màn diễn ca ngợi những con người xuất chúng, sống có đức, có tâm. Hàng năm, vào ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch, khi tổ chức lễ hội Lồng tổng, đồng bào Tày ở Định Hóa không thể thiếu vắng trò rối cạn để cầu may, cầu mùa, chúc tụng nhau năm mới làm ăn phát đạt, an khang, thịnh vượng.</p>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>                            <!--codes_iframe--><!--/codes_iframe--></p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-so-trung-bay-2-van-hoa-cac-cu-dan-toc-nhom-ngon-ngu-tay-thai/">Phòng số trưng bày 2: Văn hóa các cư dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày &#8211; Thái</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-so-trung-bay-2-van-hoa-cac-cu-dan-toc-nhom-ngon-ngu-tay-thai/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phòng trưng bày số 1: Văn hoá các tộc người nhóm ngôn ngữ Việt &#8211; Mường</title>
		<link>http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-1-van-hoa-cac-toc-nguoi-nhom-ngon-ngu-viet-muong/</link>
					<comments>http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-1-van-hoa-cac-toc-nguoi-nhom-ngon-ngu-viet-muong/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 11 Mar 2017 07:12:37 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Hệ thống trưng bày]]></category>
		<category><![CDATA[Trưng bày trong nhà]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://news.kit.com.vn/?p=339</guid>

					<description><![CDATA[<p>Phòng trưng bày số 1 giới thiệu về văn hoá 4 tộc người nhóm ngôn ngữ Việt &#8211; Mường: Kinh, Mường, Thổ, Chứt. Trong lịch sử xa xưa, cả 4 tộc người có chung một nguồn gốc. Tổ tiên của họ là chủ nhân của nền văn minh Sông Hồng với nghề trồng lúa nước [&#8230;]</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-1-van-hoa-cac-toc-nguoi-nhom-ngon-ngu-viet-muong/">Phòng trưng bày số 1: Văn hoá các tộc người nhóm ngôn ngữ Việt &#8211; Mường</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<table class="Table1">
<tbody>
<tr>
<td class="Columns1" style="text-align: justify;"></td>
</tr>
<tr style="text-align: justify;">
<td class="Columns1"><span id="dnn_ctr484_ViewTintuc_View_Chitiet_lbl_Description" class="Text_Description">Phòng trưng bày số 1 giới thiệu về văn hoá 4 tộc người nhóm ngôn ngữ Việt &#8211; Mường: Kinh, Mường, Thổ, Chứt. Trong lịch sử xa xưa, cả 4 tộc người có chung một nguồn gốc. Tổ tiên của họ là chủ nhân của nền văn minh Sông Hồng với nghề trồng lúa nước lâu đời và một thời đại đồng thau phát triển rực rỡ, được đánh dấu bằng các di chỉ khảo cổ nổi tiếng như: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn..</span></td>
</tr>
<tr style="text-align: justify;">
<td>
<div class="Columns1">
<p>Do điều kiện lịch sử tự nhiên và xã hội, đã tách ra thành những tộc người khác nhau như ngày nay. Vì vậy, bên cạnh những những dấu ấn khá t­ương đồng về mặt ngôn ngữ, phong tục tập quán, mỗi tộc người lại có những biểu hiện văn hoá theo các chiều h­ướng khác nhau, tạo nên các sắc thái văn hoá rất riêng của từng tộc người. Người Kinh vừa bảo l­ưu những bản sắc văn hoá riêng, vừa nhanh chóng tiếp thu tinh hoa của nhiều luồng văn hoá. Người M­ường vẫn bảo lư­u bản sắc văn hoá truyền thống Lạc Việt. Các tộc người Thổ, Chứt có sự giao thoa mạnh mẽ với văn hóa của một số tộc người sinh sống cùng khu vực. Trong phòng tr­ưng bày, cả yếu tố văn hoá chung và riêng của 4 tộc người lần l­ượt được giới thiệu theo 3 vùng môi sinh như: đồng bằng, thung lũng và miền núi. Thông qua các tổ hợp tr­ưng bày cụ thể như­ hình t­ượng bánh trưng bánh dầy, ngôn ngữ, kinh tế lúa nước, kinh tế sông biển, nghề thủ công&#8230; phần nào nêu bật các giá trị văn hoá chung của các tộc người. Bên cạnh đó, các tổ hợp trư­ng bày cổng làng, bàn thờ tổ tiên, đình làng, nghệ thuật rối n­ước, tục hát quan họ&#8230; mang giá trị văn hoá đặc tr­ưng, tiêu biểu của người Kinh; Nhà sàn mang bản sắc riêng của người M­ường; Tập tục đan võng đay của người Thổ và góc nhà của người Chứt là những giá trị văn hoá độc đáo của tộc người. Với diện tích 250m2, phòng trưng bày giới thiệu các yếu tố văn hoá chung và riêng của 4 tộc người theo 3 vùng môi sinh: đồng bằng, thung lũng và miền núi.</p>
<p>* Tổ hợp số 1: Cổng làng của người Kinh.</p>
<p>Người Kinh sống quần tụ trong các xóm làng. Mỗi làng có một cổng ra vào, xung quanh được bao bọc bởi luỹ tre xanh. Mỗi làng đều có cây đa, giếng nước, mái đình và chùa thờ Phật. Cổng làng truyền thống được xây bằng gạch, phía trên có tháp canh đề phòng giặc dã. Đình làng xây dựng theo lối chữ đinh, chữ công hay chuôi vồ. Hậu cung thờ Thành Hoàng, tiền đình là nơi diễn ra các sinh hoạt động đồng. Phòng trưng bày phục chế cổng làng Thổ Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Cổng làng này được xây dựng từ những năm đầu công nguyên. Lúc đầu có cổng vọng gác, cửa đóng then cài đề phòng, ngăn thú dữ, giặc dã. Bước sang thế kỷ XX, cổng làng không còn là vọng gác. Ngoài chức năng “cửa đóng then cài” cổng làng còn là một địa điểm, một vị trí để phô diễn bản sắc địa phương.</p>
<p>* Đường làng lát gạch nghiêng của người Kinh:</p>
<p>Hiện nay, nhiều làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ. Còn hiện diện những con đường làng lát gạch nghiêng. Đó là bằng chứng của lệ tục “Cheo cưới” trong hôn nhân truyền thống của người Kinh ở vùng nông thôn Bắc Bộ từ những năm đầu thế kỷ XX. Theo tục lệ, khi lấy vợ, nhà trai phải nộp cho làng một khoản “nạp cheo” thì đám cưới mới được coi là hợp pháp. Khoản “nạp cheo” này nhiều địa phương đóng vào việc công ích như đào giếng, lát đường làng, xây cổng làng&#8230;. Ngày nay, tục nạp cheo này hầu như không còn nữa, chúng ta chỉ còn thấy bóng dáng của tục “nạp cheo” qua những con đường làng hiện hữu hay những câu ca dao &#8211; tục ngữ:  “ Lấy vợ mười heo, không cheo cũng mất&#8230; Cưới vợ không cheo như tiền gieo xuống suối”.</p>
<p>* Tổ hợp số 2:  Bàn thờ tổ tiên của người Kinh</p>
<p>Người Kinh có tục thờ cúng tổ tiên từ lâu đời, trên cơ sở niềm tin về sự bất tử của linh hồn sau khi con người đã chết. Hàng năm, người ta thắp hương vào các dịp giỗ tết, tuần tiết thể hiện lòng hiếu thảo, nhớ thương người đã khuất, cầu mong tổ tiên phù hộ cho con cháu khoẻ mạnh, an khang, thịnh vượng. Mặt khác, dâng lễ cúng tổ tiên để các linh hồn không đi lang thang vô định làm hại con cháu. Việc thờ cúng tổ tiên tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế của từng gia đình. Gia thế bình thường, bàn thờ bài trí đơn giản, chỉ có một tấm gỗ nhỏ gắn trên vách với một bát hương. Ngày lễ tết, tuần tiết đôi khi chỉ một nén hương, một đĩa hoa quả hay chén nước đặt trên bàn thờ cũng tỏ tấm lòng thành.  Những gia đình trung lưu, khá giả, bài trí bàn thờ tổ tiên theo tam cấp rất cầu kỳ, công phu với nhiều đồ thờ tự khác nhau. Tại Bảo tàng trưng bày mẫu bàn thờ “tam cấp”, sơn son thếp vàng, đục chạm “tứ linh, tứ quý” của gia đình ông Nguyễn Văn Tư, 52 tuổi &#8211; một gia đình trung lưu người Kinh ở thôn Tư, xã Đồng Quang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Trong cùng là giường hành. Bên trên bài trí một cỗ ỷ thờ thần chủ ông tổ của dòng họ. Trong ỷ đặt một hộp đựng bài vị, ghi tên huý, tên thuỵ, phẩm tước, ngày sinh, ngày mất của thuỷ tổ. Bên cạnh còn có một ống đựng gia phả của dòng họ và hai cây đèn, nến, trang trí đăng đối ở hai bên. Chính giữa là sạp thờ (còn gọi là sập tôn). Bên trên đặt một mâm xà bày ngũ quả, cỗ ngọt, cỗ mặn trong ngày tết, một bát hương thờ tổ tiên, xung quanh bài trí đèn nến, ba cơi đài để bày nước, trầu cau, rượu và thuốc hút. Ngoài cùng là hương án. Trên mặt hương án bài trí tam sự, ngũ sự hoặc thất sự bằng đồng. Bộ tam sự này gồm một đỉnh đồng, hai con hạc để cắm nến. Ngoài ra còn có hai lọ hoa để dâng lễ trong những dịp cúng lễ, yết cáo tổ tiên. Phía trên bàn thờ, gắn với xà dọc và hàng cột cái còn được trang trí một bức hoành phi liên hoàn cùng với cặp câu đối. Hoành phi và hai câu đối thể hiện tâm tư tình cảm của con cháu đối với bậc tiền nhân, đồng thời thể hiện vị thế của từng gia đình, dòng họ. Vì vậy, nội dung câu đối trước bàn thờ hầu hết ca ngợi công ơn tổ tiên trồng cây đức, đắp nền nhân cho con cháu được hưởng phúc lộc. Tuy nhiên, tuỳ theo gia thế văn chương hay võ thuật, mà mỗi gia đình sử dụng nội dung câu từ cho phù hợp. Nội dung bức hoành phi “Phúc lý tuy chi” nghĩa là: nhiều phúc duy trì mãi về sau và hai vế câu đối  “Thi thư tảo thức hương nhiên đức” “Nhật nguyệt đồng ân phúc mãn đường” mang nghĩa: sớm đi vào con đường kinh sử, học sách thánh hiền, cái đức của gia đình sẽ lan toả và nhiều người biết đến; gia thế luôn tràn đầy ánh sáng của mặt trời, mặt trăng chiếu rọi, cái phúc ắt sẽ đầy nhà, duy trì cho các thế hệ mai sau. Qua 2 bức hoành phi, chúng ta có thể biết gia thế của gia đình theo nghiệp văn chương, ca ngợi cái nhân, cái đức của tổ tiên và mong con cháu luôn giữ lấy nghiệp văn chương của ông cha.</p>
<p>* Tổ hợp số 3: Canh tác lúa nước và chế biến lương thực của người Kinh</p>
<p>Người Kinh có truyền thống canh tác lúa nước từ rất sớm. Trải qua bao đời cày cấy, cha ông ta đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm  làm ruộng rất sâu sắc “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Bên cạnh đó đã tạo ra nếp sống cần cù, chịu khó của cư dân nông nghiệp vùng đồng bằng, trung du với tinh thần đoàn kết chống chọi với thiên tai để ổn định cuộc sống, và hình thức lao động đầy chất nhân văn. Những công cụ lao động như cày, bừa, cuốc, mai, thuổng, gầu tát nước, liềm, hái được trưng bày tại Bảo tàng như một minh chứng lịch sử cho quá trình canh tác thủ công, mang tính chất gia đình “Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa” trong các làng quê người Kinh. Quá trình canh tác lúa nước không chỉ đơn thuần là vậy. Mạ cấy rồi phải chăm chút bắt sâu, làm cỏ, bón phân và thường xuyên thăm nước. Lúa trỗ đòng lại cầu trời cho mưa thuận gió hoà mới cho mùa gặt bội thu. Gắn với nông nghiệp lúa nước là quá trình chế biến lúa gạo. Vào những năm 70 của thế kỷ XX quy trình chế biến mang tính giản đơn, từ giã bằng chày tay, chiếc cối xay thóc (hai thớt, đóng bằng tre, đắp đất, cấy dăm gỗ) tách vỏ thành gạo và trấu, để rồi mỗi sáng sớm, hay tối khuya chị em phụ nữ nông thôn lại nhộn nhịp bên cối giã, chuẩn bị thổi cơm cho cả gia đình. Ngày nay, ít ai còn thấy tiếng xay thóc, giã gạo chốn thôn quê, mọi vùng đều sử dụng máy sát gạo thay cho sức người và người nông dân cũng dần thích nghi với cuộc sống công nghiệp.</p>
<p>* Tổ hợp số 4: Nghề đánh bắt cá của người Kinh</p>
<p>Cư trú chủ yếu ở đồng bằng, ven biển và lưu vực các con sông, người Kinh đã biết tận dụng bờ biển dài hàng nghìn km và hệ thống sông ngòi dày đặc để làm muối, đánh bắt cá và nuôi trồng thuỷ sản… Đánh cá là một trong 4 nghề chính đem lại nguồn lợi chính cho các cư dân ven biển, ven đầm lầy, ao hồ và sông suối. Trước đây công cụ đánh bắt chủ yếu là: Diu tôm, nơm, dậm, chài, lưới, đó…Ngày nay, nhiều ngư dân đã đầu tư nâng cấp tàu thuyền, trang thiết bị hiện đại để đánh bắt xa bờ, nâng cao sản lượng, kết hợp với việc đẩy mạnh nuôi trồng thuỷ sản ở ven bờ. Gắn liền với sản phẩm đánh bắt cá và làm muối là một quá trình chế biến thuỷ &#8211; hải sản&#8230;.điển hình là nghề làm nước mắm. Nước mắm chủ yếu làm từ các loại cá: (cá linh, cá thiểu, cá cơm, cá thu, cá đối, cá quả …vv) và chiết ra dưới dạng nước. Làm mắm có 4 công đoạn chính là: làm cá, muối cá, thính mắm, chao mắm. Người ta trộn 2 hay 3 phần cá với 1 phần muối rồi để đến 1 năm, càng để lâu hàm lượng đạm càng cao nhưng nước mắm ít thơm và màu bị sậm hơn. Người ta còn chôn nước mắm vài ba năm, lúc đó màu nước mắm thành đen gọi là nước mắm lú, dùng để chữa bệnh. Nếu dùng cá ươn thời gian sẽ mau hơn nhưng nước mắm không thơm. Tùy theo nước chiết từ lu/hũ ủ nước mắm mà người ta phân cấp độ (nước mắm cốt, nước mắm loại 1, nước mắm loại 2). Cách sử dụng mắm trong bữa ăn hàng ngày là nét văn hoá ẩm thực rất riêng của cư dân Việt.</p>
<p>* Tổ hợp số 5: Nhà sàn dân tộc Mường</p>
<p>Từ bao đời, người Mường đã quen sống trên những ngôi nhà sàn. Đồng bào đã đúc kết toàn bộ đời sống văn hoá của mình qua câu ngạn ngữ:  “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui tháng tới”. Nhà của người Mường thường dựng ở gò đồi, lưng dựa vào núi, nhà có 4 mái, ba gian, sàn lát bằng gỗ. Gian đầu tiên từ cầu thang lên gọi là gian gốc. Đây là gian quy tụ mọi tính linh thiêng của ngôi nhà, nơi diễn ra các lễ nghi thể hiện ứng xử của con người với ngôi nhà. Tại đây có một cây cột gốc to hơn các cây cột khác trong nhà, để đặt bàn thờ tổ tiên. Mọi thành viên, kể cả chủ hay khách đều không được phép bôi nhọ, dựa lưng, gác chân, buộc đồ vật hay treo quần áo vào cột này. Phần cột dưới sàn cũng không được buộc trâu bò hay dựng, treo công cụ lao động. Nếu ai phạm phải những điều cấm trên, đều bị coi là xúc phạm đến gia đình, tổ tiên và thần linh. Vì vậy gian nhà gốc chỉ dành riêng cho nam giới, phụ nữ tuyệt đối không được ngồi nghỉ hoặc làm việc ở đây. Trong các ngày trọng đại như hôn lễ, ma chay, thì chỉ những nam giới có vai vế trong dòng họ mới được ngồi ăn uống. Tại gian nhà linh thiêng này có một cửa sổ làm sát đến sàn nhà gọi là cửa “voóng”, bình thường không ai được đưa vật gì hay chui qua, chỉ dành để đưa quan tài ra ngoài khi gia chủ có tang ma. Đối diện với cột gốc có một cây cột khác cũng quan trọng. Ở chân cột này, người ta để vài cum lúa đã tuốt hết hạt. Đầu cột đội một cái giỏ thủng biểu hiện cho âm tính (đồng bào gọi là nường). Bên cạnh đó, người Mường treo một đoạn tre tước xơ một đầu cho bông lên biểu hiện cho dương tính (gọi là nõ). Điều này thể hiện quan niệm cân bằng âm dương, để tạo sự ổn định phát triển và thuận hoà cho cả gia đình. Tại gian này, người ta cũng treo những chiếc nạ mụ để giữ vía cho các thành viên nhỏ tuổi trong nhà.</p>
<p>Gian giữa thường là nơi để thóc và làm bếp.</p>
<p>Gian cuối cùng  được ngăn với các gian khác trong nhà bởi một tấm liếp, là nơi để chạn bát, đồ dùng gia đình, bếp nấu cơm và là nơi ngủ nghỉ của phụ nữ. Nhà sàn của người Mường còn có mặt bằng thứ tư. Đó là sàn gác được làm từ những tấm gỗ hay cây bương gác qua các xà ngang, làm nơi đựng nông sản và các dụng cụ sinh hoạt gia đình. Đầu hồi nhà người Mường bao giờ cũng có một chiếc đuống và một cối tròn. Đuống là dụng cụ để vò thóc, đồng thời là dụng cụ báo hiệu khi nhà có việc lớn như đám cưới, đám tang. Bên cạnh đó, đuống còn là nhạc cụ gõ của phụ nữ để tấu những bản nhạc vui trong những ngày lễ tết, hội hè hay chào mừng khách đến chơi nhà  để tỏ lòng mến mộ. Gầm sàn là nơi để các công cụ sản xuất như: Cày, bừa, cuốc, liềm&#8230;và nhốt trâu bò. Ngày nay không ai còn để đuống và nhốt trâu bò dưới gầm sàn như trước nữa. Nhà sàn Mường ở Hoà Bình thường có hai cầu thang, gọi là cầu thang chủ và cầu thang khách. Cầu thang chủ đặt ở gian cuối dành riêng cho phụ nữ đi lại. Cầu thang khách đặt ở gian đầu dành cho khách và nam giới. Điều này khác hẳn với ngôi nhà có một cầu thang của người Mường ở tỉnh Phú Thọ. Người Mường Phú Thọ quan niệm: Nhà hai cầu thang sẽ mang lại sự xui xẻo, của cải sẽ không giữ được trong nhà “vào đầu này, ra đầu kia”, nên cả vùng không thấy có loại nhà hai cầu thang. Trên sàn, nhà của người Mường ở các nơi đều có hai bếp: bếp chủ và bếp khách. Bếp chủ ở bên trong để nấu nướng, sưởi lửa. Bếp khách để bên ngoài. Với người Mường, bếp rất linh thiêng, sự linh thiêng ấy ngự trị ngay trong ngọn lửa. Vì vậy, đồng bào cấm kị hơ chân, thay quần áo bên bếp lửa. Nếu vi phạm điều cấm kỵ là xúc phạm đến thần lửa ắt sẽ gặp tai hoạ. Ngay trên khung bếp, người Mường dựng một gác bếp để chứa dụng cụ chế biến, nấu nướng như: rá vớt gạo, ống muối, đũa cả, các loại giỏ, mõ trâu&#8230; Người Mường thường nói “Muốn tìm gì cứ tìm trên gác bếp”. Trong đời sống ẩm thực của người Mường, không thể thiếu hương vị độc đáo của men rượu cần. Rượu được làm từ gạo nếp ủ với lá cây rừng dùng trong các lễ hội như: cưới xin, khánh thành nhà mới, tang ma, tiếp khách quý, lễ, tết. Vò rượu ngon có rất nhiều cần để mọi người cùng uống thể hiện sự đoàn kết cộng đồng và lòng hiếu khách, của người Mường.</p>
<p>* Tổ hợp số 6:  Văn hoá dân tộc Thổ, Chứt</p>
<p>Dân tộc Thổ sinh sống ở miền Tây Nghệ An, có trên 50.000 người với các tên gọi khác nhau như: Kẹo, Mọi, Cuối, Họ, Đan Lai&#8230; Đồng bào canh tác nương rẫy kết hợp với trồng lúa nước. Bên cạnh hình thức canh tác dùng gậy chọc lỗ tra hạt, đồng bào đã biết dùng cày, bừa để lấp đất sau khi gieo. Người Thổ có kinh nghiệm đánh bắt cá và săn bắt thú rừng. Đồng bào giỏi đan võng gai để phục vụ cuộc sống. Người Thổ sinh sống thành từng làng bản dọc theo các con sông, con suối lớn. Mỗi bản từ vài nóc đến vài chục nóc nhà. Xưa kia, đồng bào ở nhà sàn, nay hầu hết đã ở nhà trệt. Mặt bằng sinh hoạt trong ngôi nhà của người Thổ được chia làm 2 phần theo chiều ngang: Phần ngoài đặt bàn thờ tổ tiên, là nơi tiếp khách. Phần trong là bếp và nơi sinh hoạt của phụ nữ; gầm sàn là nơi nhốt trâu bò và các dụng cụ phục vụ sản xuất như: cuốc, liềm, củi, cối giã gạo. Cầu thang thường đặt ở hồi trái. Người Thổ không dệt vải, nên y phục chủ yếu mua hoặc trao đổi với các dân tộc láng giềng. Có nơi, đồng bào mặc giống người Kinh ở vùng nông thôn nửa thế kỷ về trước, có nơi mua váy của người Thái. Tuy nhiên chiếc khăn, áo trắng bằng vải thô vẫn mang đậm dấu ấn truyền thống tộc người. Người Chứt hiện có khoảng hơn 2 nghìn người, cư trú ở hai huyện Minh Hoá và Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình. Dân tộc Chứt còn có các tên gọi khác là Rục, Sách, A Rem, Mã Liềng&#8230;Nguồn sống chính của đồng bào là làm ruộng và canh tác nương rẫy, ngoài ra còn hái lượm, săn bắn, đánh cá, và chăn nuôi. Người Chứt không trồng bông dệt vải, y phục chủ yếu được trao đổi với các tộc người láng giềng. Áo may bằng vải màu đen có thêu nhẹ nhàng ở hò áo, không đơm cúc mà buộc dây cùng chiếc váy dệt hoa văn giống với người Bru &#8211; Vân Kiều và các cư dân bên kia biên giới. Trước đây người Chứt sống du canh, du cư trong các hang động, ngườm đá hay những túp lều đơn sơ, lợp bằng lá cây rừng. Hiện nay, đồng bào đã định canh, định cư thành từng làng trên những triền núi dốc. Cấu trúc nhà gần giống kiểu nhà một gian hai chái của người Kinh ở Bắc Trung Bộ.</p>
<p>* Tổ hợp số 7: Nghề thủ công truyền thống</p>
<p>* Nghề gốm của người Kinh</p>
<p>Người Kinh có nghề gốm phát triển từ lâu đời. Đến nay, nhiều làng gốm nổi tiếng vẫn còn tồn tại như gốm Bát Tràng, Thổ Hà, Hương Canh&#8230; với các sản phẩm rất phong phú gồm đồ gia dụng, đồ trang trí (bát, bình, ấm, chén, con giống…) được thể hiện trên các loại chất liệu khác nhau như đất nung, sành nâu, sành xốp&#8230; Gốm Phù Lãng ở Bắc Ninh được hình thành và phát triển vào khoảng thời Trần, thế kỷ XIV. Kỹ thuật sản xuất chủ yếu sử dụng phương pháp tạo hình trên bàn xoay và in trên khuôn gỗ hoặc khuôn đất nung rồi dán ghép lại và phương pháp đắp nổi theo hình thức chạm bong. Sản phẩm gốm Phù Lãng thuộc loại men nâu ở những sắc độ khác nhau như da lươn, vàng nhạt, vàng thẫm, vàng nâu&#8230; và 3 loại hình chính là: Gốm dùng trong tín ngưỡng, (lư hương, đài thờ, đỉnh&#8230;); Gốm gia dụng (lọ, bình, ang, chum, vại, bình vôi, ống điếu&#8230;) và gốm  trang trí (bao gồm bình, ấm hình thú như ngựa, voi&#8230;). Gốm Bát Tràng ở Gia Lâm Hà Nội cũng hình thành vào thế kỷ 14-15. Nguyên liệu sản xuất gốm chủ yếu là đất sét; kỹ thuật sản xuất truyền thống, sử dụng phương pháp tạo hình trên bàn xoay. Đất sét trắng sau khi nặn cốt sửa và phơi khô, sau đó được quét men rồi cho vào lò nung. Ngày nay, hầu hết người ta dùng khuôn đúc để tạo dáng sản phẩm. Sản phẩm truyền thống của làng gốm Bát Tràng chỉ có ba loại để phục vụ tín ngưỡng gia dụng và trang trí. Ngày nay, sản phẩm gốm Bát Tràng phong phú đa dạng không chỉ được sử dụng phổ biến ở trong nước mà còn xuất khẩu sang Châu âu, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan&#8230; Tháng 11 năm 2004, thương hiệu “Bát Tràng &#8211; Việt Nam” được công bố và chính thức quảng bá thương hiệu cho hàng gốm sứ lâu đời của Việt Nam trên thị trường thế giới. Sự kiện này là một bước tiến quan trọng trong quá trình phát triển của làng gốm Bát Tràng trong  xu thế hội nhập quốc tế. Gốm Hương Canh ở Vĩnh Phúc, từ xưa chỉ phục vụ nhu cầu của nhân dân trong vùng. Những hũ, vại giản đơn, dạng sành được sử dụng phổ biến trong việc đựng nông sản, muối cà, làm mắm, chăn nuôi&#8230;đã làm phong phú thêm kho tàng văn hoá Việt Nam.</p>
<p>* Nghề in tranh dân gian Đông Hồ</p>
<p>Cách thủ đô Hà Nội 30 km về hướng Đông, làng tranh dân gian Đông Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh vẫn nổi tiếng với nghề in tranh tồn tại từ thế kỷ XVI. Tranh được in trên giấy gió mịn mặt. Trước khi in, giấy được bồi điệp làm nền, chất điệp óng ánh lấy từ vỏ con sò, con hến đã tạo nên chất liệu riêng biệt của Đông Hồ.  Màu tranh được chế biến từ chất liệu thiên nhiên: màu đen lấy từ than lá tre; màu xanh lấy từ vỏ và lá chàm, màu vàng lấy từ hoa hòe, màu đỏ thắm lấy từ thân, rễ cây vang, màu son lấy từ sỏi núi, màu trắng là điệp&#8230;  Dụng cụ in tranh chỉ có khuôn in, chổi quét màu và những bản khắc gỗ. Mỗi màu in  có một bản khắc riêng. Vì vậy bức tranh bao nhiêu màu sẽ có bấy nhiêu bản khắc gỗ. Sản phẩm tranh gồm có 5 loại: Tranh thờ, tranh lịch sử, tranh chúc tụng, tranh sinh hoạt và truyện tranh. Trong số sản phẩm tranh Đông Hồ “Hứng dừa” và “Đánh ghen” được coi là những tác phẩm nổi tiếng với triết lý dân gian sâu sắc. Nếu “Hứng dừa” ca ngợi một gia đình hạnh phúc, đầm ấm, hai vợ chồng tâm đầu, hợp ý, hai đứa con vui đùa, mãn nguyện.“Khen ai khéo dựng nên dừa, Chồng trèo, vợ hứng cho vừa một đôi”. Thì “Đánh ghen” lại mang một nội dung trái ngược, phê phán chế độ đa thê, người chồng không chung thuỷ dẫn đến cảnh tan cửa nát nhà.“Thôi, thôi bớt giận làm lành, Chi điều sinh sự nhục mình, nhục ta”. Tranh Đông Hồ có sức sống lâu bền và cuốn hút đặc biệt với nhiều thế hệ người Việt Nam cũng như du khách nước ngoài bởi đề tài trên tranh phản ánh đậm chất dân gian, mộc mạc, giản dị, gần gũi gắn liền với văn hoá người Việt và bởi chính tâm hồn các nghệ nhân tranh Đông Hồ như Nguyễn Hữu Sam, Nguyễn Đăng Chế… những người đã góp phần giữ gìn nghề in tranh và là chủ nhân của những bức tranh đang trưng bày tại Bảo tàng hôm nay.</p>
<p>* Nghề gò đúc đồng Đại Bái</p>
<p>Đại Bái xưa có tên là làng Văn Lãng nổi tiếng với nghề gò đúc đồng truyền thống, chuyên sản xuất các vật dụng gia đình. Ban đầu Đại Bái chỉ làm các vật dụng thô sơ, sau mới có ấm, mâm, chậu thau. Đầu thế kỷ XI, nghề gò đúc đồng làng Đại Bái phát triển mạnh. Nổi tiếng nhất là các sản phẩm: Tượng đồng, đỉnh đồng, lư hương, lọ hoa, tranh, câu đối. Dụng cụ đúc đồng gồm có bễ thổi lửa, nồi đúc, khuôn đúc, đe gò đồng, búa gò đồng, kéo cắt đồng, trục tiện các sản phẩm đồng. Ngày nay, làng Đại Bái tiếp tục phát triển và gìn giữ nghề truyền thống với những hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh cùng sự cải tiến kỹ thuật, tự trang, tự chế ra máy móc như máy cán, máy dập, máy đánh bóng&#8230;tìm kiếm thị trường xuất khẩu.</p>
<p>* Tổ hợp số 8: âm nhạc dân gian</p>
<p>Nhạc cụ của người Kinh phải kể đến: Mõ, phách, đàn cò, đàn nhị, kèn&#8230; Trong đó Mõ được xếp là một nhạc khí tự thân vang, phổ biến ở Việt Nam. Nó được sử dụng trong các không gian khác nhau với những chức năng khác nhau. Trong chùa mõ đóng vai trò điểm nhịp đều theo lời tụng kinh. Ngoài đời, những người nông dân xưa dùng mõ để giữ nhịp và hoà tấu khi diễn tuồng hay hát chèo. Ngày nay, mõ còn được dùng trong các tốp nhạc dân tộc mới và trong dàn nhạc dân tộc. Xinh tiền là nhạc cụ gõ độc đáo, xuất hiện ở Việt Nam ít nhất vài trăm năm nay. Tên cổ của nó là phách xâu tiền hay phách quán tiền, ngày nay có người gọi là sênh tiền (hay xinh tiền). Xinh tiền được dùng trong dàn nhạc cung đình, bát âm, hát sắc bùa, và hát ả đào hay hòa tấu, giữ nhịp hoặc làm đạo cụ múa. Xinh tiền gồm có 3 thanh gỗ cứng, hai thanh dài 28cm, một rộng 3cm, dày 8mm, còn thanh thứ ba ngắn hơn có kích thước 20cm. Người Mường có bộ cồng được đúc bằng đồng thau hoặc đồng đỏ. Cồng hiện diện trong tất cả các lễ hội, sinh hoạt cộng đồng của người Mường như: lễ xuống đồng, lễ cầu đảo, ngày hội đánh cá, lễ cơm mới, lễ mừng nhà mới, tang lễ… Cồng còn dùng trong đi săn, báo động khi có hoả hoạn, trộm cắp, báo lệnh của nhà Lang &#8230;  Đặc biệt trong ngày tết nguyên đán, người Mường tổ chức hát Sắc bùa đi chúc tết các gia đình trong bản. âm thanh sắc bùa và những ứng xử đầy tính nhân văn đã tạo nên nét riêng, độc đáo trong văn hoá Mường. Một dàn cồng của người Mường hoàn chỉnh phải có đủ 12 chiếc. Người chơi cồng thường là nữ, nhưng đôi khi cả nam và nữ. Mỗi người một chiếc, tay này xách quai đeo cồng, tay kia cầm dùi gỗ quấn vải, gõ vào núm cồng, theo nhịp điệu và tiết tấu của bài. Một dàn cồng của người Mường có hai hình thức biểu diễn: dàn hàng ngang đứng tại chỗ, hoặc vừa đánh cồng vừa đi tròn. Xưa kia khi có việc hệ trọng trong làng, các gia đình quý tộc &#8211;  nhà Lang thường sử dụng vài ba bộ cồng đánh một lúc.</p>
<p>* Nghệ thuật múa rối nước của người Kinh</p>
<p>Múa rối nước là một loại hình nghệt thuật sân khấu dân gian truyền thống lâu đời của Việt Nam gắn bó mật thiết với hội hè, đình đám ở các làng quê. Nghệ thuật múa rối nước ra đời cách ngày nay gần 10 thế kỷ, múa rối nước cổ truyền có nội dung phong phú, ngắn gọn, phản ánh chân thực cuộc sống lao động, sản xuất, chiến đấu chống thiên tai, dịch hoạ, nhằm thích với thiên nhiên, xây dựng cuộc sống, bảo vệ đất nước. Trò rối nước xưa thường diễn không lời hoặc chỉ với lời giáo, lời hát làm nền, dẫn chuyện cùng với tiếng trống, tiếng mõ, tiếng pháo, tiếng tù và… điểm nhịp, gây không khí rộn ràng. Con rối được tạc bằng gỗ sung, gỗ vông, quét nhựa cây, sơn thếp vàng, thếp bạc. Quân rối nước cử động nhờ 2 loại lò so và dây được giấu kín, biểu diễn bằng sào và dây. Trình diễn múa rối nước thường mở màn bằng nhân vật Chú Tễu giới thiệu để tạo không khí vui tươi, dí dỏm, đượm chất dân gian. Sau đó là các trò diễn tứ linh (long, ly, quy, phượng), thể hiện ước nguyện mưa thuận, gió hoà mùa màng bội thu; các trò diễn thể hiện cuộc sống đời thường như xay thóc, giã gạo, cày bừa, cáo bắt vịt&#8230; Các trò diễn ca ngợi người nông dân chăm chỉ hiền lành phê phán thói ba hoa với nhân vật Ba thạo, phê phán người gian giảo, đã góp phần đưa cuộc sống lên sân khấu làm phong phú thêm kho tàng văn hoá Việt Nam.</p>
<p>* Tổ hợp số 9: Chiếu chèo sân đình</p>
<p>Chèo là một loại hình nghệ thuật mang đậm bản sắc dân tộc. Đất chèo có gốc từ vùng châu thổ sông Hồng. Khởi đầu bằng hình thức trò nhại, trò diễn xướng dân gian từ thế kỷ X-XI, chèo dần dần trở thành một sinh hoạt văn hóa của nhiều làng quê Bắc Bộ. Sân khấu chèo xưa kia là hai chiếc chiếu trải ở giữa sân đình, khán giả ngồi vây ba mặt nên gọi là chiếu chèo hay chèo sân đình. Đầu thế kỷ 20, chèo được đưa lên sân khấu và trở thành đại diện tiêu biểu của sân khấu truyền thống Việt Nam.</p>
<p>* Tổ hợp số 10: Đình làng người Kinh</p>
<p>Đình làng gắn liền với tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng của người Kinh. Hàng năm lễ hội thường được tổ chức ở Đình làng. Lễ hội gắn với truyền thống lịch sử (sự tích thần đánh giặc, lập làng, dạy nghề), gắn với lễ nghi nông nghiệp (lễ rước nước). Các ngôi đình nổi tiếng ở Bắc bộ như: Đình Bảng, Bắc Ninh; Đình Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội, Đình Tây Đằng, Chu Quyến &#8211; Hà Tây; Đình Thổ Hà, Phù Lão &#8211; Bắc Giang; Đình Hoành Sơn, Nam Đàn, Nghệ An, đình Làng Đình Bảng &#8211; Bắc Ninh. Bảo tàng đã trích đoạn một góc Đình Bảng. Một ngôi đình lớn nhất Việt Nam, nằm ở làng Đình Bảng (xưa là làng Cổ Pháp) huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Đình được xây dựng vào cuối thế kỷ 18, kiểu bốn mái. Một số đình có tám mái theo kiến trúc chữ đinh để thờ các vị thành hoàng gồm Cao Sơn Đại vương (thần Núi), Thủy Bá Đại vương (thần Nước) và Bách Lệ Đại vương (thần Đất) đồng thời thờ sáu vị có công lập làng vào thế kỷ 15. Ngày nay, đình làng vẫn chiếm giữ một vị trí quan trọng trong đời sống, tình cảm của mỗi người dân Việt Nam. Nối tiếp đời này sang đời khác, người dân luôn gìn giữ, trân trọng ngôi đình &#8211; một phần không thể thiếu cấu thành văn hoá Việt Nam.</p>
<p>* Tổ hợp số 11: Hát quan họ vùng Kinh Bắc</p>
<p>Kinh Bắc là cái nôi của nhiều lễ hội cổ truyền đặc sắc và là quê hương của những làn điệu dân ca quan họ. Cứ mỗi độ xuân về, các làng lại mở hội hát quan họ. Trước khi mở hội, các làng mang hương hoa, vật phẩm đến đền thờ Vua Bà ở làng Viêm Xá, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh để xin mở hội. Theo truyền thuyết, Vua Bà chính là người sáng lập những làn điệu quan họ. Khi hát, nam giới thường mặc áo the, áo lụa, khăn xếp, tay cầm ô; nữ giới mặc áo mớ ba mớ bảy, thắt lưng lụa đào, tay cầm nón quai thao cho thêm phần duyên dáng và lịch sự. Hát Quan họ là lối hát đối đáp giữa nam và nữ. Những câu hát bắt nguồn từ sinh hoạt thường nhật mang đậm màu sắc trữ tình, rất bài bản và phong phú về làn điệu. Nơi hát quan họ có thể diễn ra trong nhà, sân đình, sân chùa, dưới sông hay trên đồi. Hát quan họ bao giờ cũng có những màn chào hỏi, mời trầu, tìm hiểu gia cảnh của nhau. Mỗi lễ hội như vậy có khi kéo dài 2-3 ngày không dứt, rồi họ hẹn nhau đến mùa hội năm sau.</p>
<p>* Tổ hợp số 12: Quả đựng đồ lễ trong đám cưới của dân tộc Kinh</p>
<p>Quả đựng lễ vật là vật dụng không thể thiếu trong đám hỏi của người Kinh. Tuỳ theo từng gia đình đồ lễ nhiều hay ít, người ta sử dụng 3 &#8211; 5 &#8211; 7 quả lễ với các kích thước khác nhau. Thông thường khi đôi trai gái đã ưng nhau phải thực hiện nghi lễ đánh tiếng dạm ngõ, đợi ngày lành tháng tốt làm đám hỏi. Trong đám hỏi thanh niên bưng theo quả lễ, phủ vải điều màu đỏ có dán hay thêu chữ song hỷ, bên trong đựng trầu, cau, bánh phu thê. Đến nhà gái, tuỳ theo số lượng chàng trai bưng quả lễ, phía nhà gái phải cử số lượng con gái chưa chồng tương ứng ra đón lễ. Nhà trai mở lễ, đại diện nhà gái nhận lễ đặt lên bàn thờ gia tiên. Hai họ bàn chuyện cưới xin, ăn uống vui vẻ. Khi họ nhà trai ra về, nhà gái để lại trên nắp quả một phần lễ vật gọi là lại quả. Hiện nay, nghi lễ hỏi và những quả đựng lễ vẫn duy trì trong đời sống đồng bào, thậm chí nhiều gia đình còn tổ chức lễ hỏi rất lớn với số lượng quả lễ 9, 12 hay 15&#8230; quả đựng lễ.</p>
<p>* Tục ăn trầu:</p>
<p>Con dao, túi vải, bình vôi, cơi trầu trưng bày tại bảo tàng thể hiện tục ăn trầu và những ứng xử đầy chất nhân văn của người Việt Nam; ăn trầu là phong tục cổ truyền của nhiều dân tộc ở Việt Nam có từ thời Hùng Vương. Nó gắn liền với một câu chuyện về tình yêu và sự chung thuỷ. Vì vậy, trầu cau vừa biểu hiện của phong cách, vừa thể hiện tình cảm của người Việt Nam. “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, làm cho con người gần gũi, cởi mở với nhau hơn trong cuộc sống. Trầu dùng trong lễ hội, trong câu hát, khi tiếp khách, làm sính lễ trong đám hỏi, thay cho thiệp báo, thiệp mời trước ngày hôn lễ. Trầu cau có mặt trong mỗi cuộc vui buồn của làng quê, là quà tặng trong mỗi dịp tết đến, xuân về, trầu cau còn là đồ cúng lễ, ngày giỗ, để ghi nhớ công ơn nuôi nấng sinh thành của bậc tiền nhân. Ăn trầu còn gắn với tục nhuộm răng để có những “má hồng răng đen” tiêu biểu của cái đẹp người con gái thuở xưa.</p>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-1-van-hoa-cac-toc-nguoi-nhom-ngon-ngu-viet-muong/">Phòng trưng bày số 1: Văn hoá các tộc người nhóm ngôn ngữ Việt &#8211; Mường</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>http://mcve.org.vn/2017/03/11/phong-trung-bay-so-1-van-hoa-cac-toc-nguoi-nhom-ngon-ngu-viet-muong/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
