<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Trưng bày ngoài trời &#8211; Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</title>
	<atom:link href="http://mcve.org.vn/category/gioi-thieu/trung-bay/tb-ngoai-troi/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://mcve.org.vn</link>
	<description>MCVE</description>
	<lastBuildDate>Sun, 12 May 2019 09:11:04 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=5.8</generator>

<image>
	<url>http://mcve.org.vn/wp-content/uploads/2017/03/cropped-usbanner-32x32.jpg</url>
	<title>Trưng bày ngoài trời &#8211; Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</title>
	<link>http://mcve.org.vn</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Không gian văn hoá vùng núi cao phía Bắc</title>
		<link>http://mcve.org.vn/2017/05/17/khong-gian-van-hoa-vung-nui-cao-phia-bac-2/</link>
					<comments>http://mcve.org.vn/2017/05/17/khong-gian-van-hoa-vung-nui-cao-phia-bac-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hà Thắng]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 17 May 2017 14:43:43 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Trưng bày ngoài trời]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://news.kit.com.vn/?p=1887</guid>

					<description><![CDATA[<p>Vùng văn hóa núi cao phía Bắc được thể hiện trên diện tích 4.000m2. Trong đó, trưng bày nguyên mẫu ngôi nhà truyền thống của người H’Mông trắng ở huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, làm điểm nhấn giới thiệu đời sống văn hoá của cư dân núi cao phía Bắc. Trong nhà có trưng [&#8230;]</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/05/17/khong-gian-van-hoa-vung-nui-cao-phia-bac-2/">Không gian văn hoá vùng núi cao phía Bắc</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<table class="Table1">
<tbody>
<tr>
<td class="Columns1">
<p style="text-align: justify;">Vùng văn hóa núi cao phía Bắc được thể hiện trên diện tích 4.000m2. Trong đó, trưng bày nguyên mẫu ngôi nhà truyền thống của người H’Mông trắng ở huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, làm điểm nhấn giới thiệu đời sống văn hoá của cư dân núi cao phía Bắc. Trong nhà có trưng bày các sưu tập hiện vật theo cách bài trí của ngôi nhà truyền thống gồm: Công cụ sản xuất; dệt vải lanh, dụng cụ chế biến mèn mén và các vật dụng phục vụ sinh hoạt gắn với góc bếp của người H’Mông.</p>
</td>
</tr>
<tr style="text-align: justify;">
<td>
<div class="Columns1">
<p>Cấu trúc cảnh quan gồm: Sân vườn, hàng rào, cổng nhà, cây trồng xung quanh khuôn viên ngôi nhà; Nương thổ canh hốc đá, nương trồng lanh, ruộng bậc thang; Cổng nhà người Cờ Lao được làm theo cổng nhà truyền thống của người Cờ Lao ở xã Sính Lủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.</p>
<p>1.  Ngôi nhà truyền thống của người H’Mông.<br />
Bản của người HMông có từ vài ba nóc nhà trở lên, trong bản có nhiều dòng họ, tuy nhiên có bản chỉ có một dòng họ. Nhà dựa lưng vào núi, làm nhà sát nhau.  Nhà thường là ba gian hai chái, nhà đất, trình tường, xếp đá, thưng ván, liếp nứa hay lợp cỏ tranh,  mái lợp ngói hoặc ván gỗ. Trong 3 gian nhà chính, gian bên trái đặt bếp lò và chỗ ngủ của vợ chồng chủ nhà. Gian bên phải đặt bếp nấu ăn. Gian giữa rộng hơn để đặt bàn thờ tổ tiên. Hai chái nhà đặt cối xay ngô, cối giã gạo, thùng ngâm chàm, các dụng cụ dệt vải…</p>
<p><img loading="lazy" class="aligncenter" src="http://mcve.org.vn/Portals/0/Khac/Ngoai%20troi/NhaMong.jpg" alt="" width="287" height="188" />Ngôi nhà truyền thống của người H’Mông trắng phục chế nguyên mẫu theo ngôi nhà của giai đình&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;.., Thời gian phục chế&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;, tỷ lệ:&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;..</p>
<p>2. Nương thổ canh hốc đá.<br />
Các tộc người H’mông, Cờ Lao, Lô Lô, Dao đỏ sống ở vùng núi đá  đã biết lợi dụng thế đất hẹp, độ dốc lớn làm nương và nương thổ canh hốc đá. Đồng bào đã địu từng quẩy đất từ các lòng khe suối lên trên núi và xếp đá theo kinh nghiệm riêng, khi mưa xuống, đất không bị rửa trôi để trồng ngô, khoai, các loại cây công nghiệp dài ngày: chè, quế, hồi, thảo quả, đẳng sâm, các loại giống su hào, bắp cải, các loại cây ăn quả và hoa mầu khác.</p>
<p>Từ lâu họ đã biết sử dụng cày, bừa, ngoài ra người ta còn sử dụng các loại dao, rìu, thuổng, cuốc, gậy chọc lỗ để canh tác trên nương thổ canh hốc đá.</p>
<p>Nương thổ canh của đồng bào H’mông, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang</p>
<p>3. Ruộng bậc thang.<br />
Việc khai phá ruộng bậc thang mất rất nhiều công sức. Sau khi đã chọn đất làm ruộng, đồng bào tiến hành khai phá đất. Họ dùng cuốc san và dùng cày để cày và san từng lớp đất tạo mặt bằng ven sườn núi, mỗi bậc thang đều có bờ đất để giữ nước và đất mầu. Đồng bào đắp bờ cho các thửa ruộng ở khoảng đồi dốc và buộc nước chảy qua, tạo được những mảnh ruộng mà nước luôn luôn được duy trì bằng chiều cao của ruộng, chiều rộng hẹp của ruộng nhiều khi chỉ vừa một đường bừa, chiều dài uốn theo sườn núi, có những mảnh ruộng dài tới vài chục mét. Hiện nay, ở các tỉnh miền núi vùng Đông Bắc, Tây Bắc có những thửa ruộng bậc thang chạy dài từ chân núi lên đỉnh núi.</p>
<p>4. Hình tượng gia đình người Hmông dắt ngựa về chợ<br />
Trước đây, do điều kiện kinh tế và giao thông đi lại khó khăn, phương tiện vận chuyển chủ yếu của đồng bào các dân tộc vùng núi cao là gùi và ngựa. Người Hmông thường nuôi ngựa để thồ hàng ra chợ bán và vận chuyển nông sản từ nương về nhà. Ngựa còn được sử dụng làm sức kéo thay trâu, bò. Trong những ngày chợ phiên dễ dàng bắt gặp hình ảnh 1 đôi vợ chồng người H’mông xuống chợ, chồng ngồi trên lưng ngựa, vợ dắt ngựa, phía sau là hai gùi hàng đựng đồ nông sản, bó vải, một bịch giày… đặt trên yên ngựa đem xuống chợ bán.</p>
<p>Tác giả: &#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;.<br />
Chất liệu:&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;..<br />
Tỷ lệ: &#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;.</p>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>                            <!--codes_iframe--><!--/codes_iframe--></p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/05/17/khong-gian-van-hoa-vung-nui-cao-phia-bac-2/">Không gian văn hoá vùng núi cao phía Bắc</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>http://mcve.org.vn/2017/05/17/khong-gian-van-hoa-vung-nui-cao-phia-bac-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Không gian văn hoá vùng thung lũng</title>
		<link>http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-thung-lung/</link>
					<comments>http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-thung-lung/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 11 Mar 2017 08:50:08 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Hệ thống trưng bày]]></category>
		<category><![CDATA[Trưng bày ngoài trời]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://news.kit.com.vn/?p=391</guid>

					<description><![CDATA[<p>Vùng văn hoá thung lũng được thể hiện trên diện tích 4.400 m2, tái hiện ngôi nhà sàn truyền thống của người Tày và người Nùng ở tỉnh Lạng Sơn. Không gian phía trong nhà trưng bày các sưu tập hiện vật theo cách bài trí của ngôi nhà truyền thống gồm: Công cụ sản [&#8230;]</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-thung-lung/">Không gian văn hoá vùng thung lũng</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<table class="Table1">
<tbody>
<tr>
<td class="Columns1" style="text-align: justify;"><span id="dnn_ctr484_ViewTintuc_View_Chitiet_lbl_Description" class="Text_Description">Vùng văn hoá thung lũng được thể hiện trên diện tích 4.400 m2, tái hiện ngôi nhà sàn truyền thống của người Tày và người Nùng ở tỉnh Lạng Sơn. Không gian phía trong nhà trưng bày các sưu tập hiện vật theo cách bài trí của ngôi nhà truyền thống gồm: Công cụ sản xuất, dệt vải thổ cẩm, nghề làm giấy gió, dụng cụ chế biến rượu &#8220;lẩu siêu&#8221;, cơm lam, thịt nướng và các vật dụng phục vụ sinh hoạt như giường, hòm, hòm đựng đồ tư trang; các công cụ vận chuyển như: dậu, sọt,…;các sưu tập hiện vật gắn với từng nghi lễ trong chu kỳ đời người; nhạc cụ và các hiện vật gắn với tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào vùng thung lũng.</span></td>
</tr>
<tr style="text-align: justify;">
<td>
<div class="Columns1">
<p>Cấu trúc cảnh quan gồm: cảnh quan trong vườn nhà, rừng cọ, đồi chè, dòng suối, cọn quay, cối giã gạo bằng sức nước và hình tượng thiếu nữ Thái, Mường vác nước.</p>
<p><strong>1. Ngôi nhà truyền thống của người Tày</strong></p>
<p>Nhà của người Tày ở vùng thung lũng Đông Bắc phổ biến là nhà sàn, 4 mái, khác hẳn với nhà sàn của người Thái hay người M­ường ở vùng thung lũng Tây Bắc. Nhà có ba gian, bốn vì cột, mỗi vì cột có 5, 7 hoặc 9 cột. Hệ khung cột và vì kèo làm bằng các loại gỗ tốt như­ nghiến, lim&#8230; Mặt sàn trải ván ghép, mái lợp ngói âm dương.</p>
<p>Trên sàn, người ta ngăn thành nhiều buồng làm nơi ngủ, phòng tiếp khách, phía trên sàn còn có một tầng gác lát ván hoặc trải vầu để chứa lương thực. Trước đây, gầm sàn dùng để nuôi trâu, bò, ngựa, lợn, gà vịt và dê. Ngày nay, gầm sàn chuyển làm nơi cất trữ nông cụ sản xuất.Trước sân hay sau nhà còn có thêm một sàn nhỏ làm sân phơi.</p>
<p>Ngôi nhà được phục chế theo nguyên mẫu nhà gia đình ông Hoàng Văn Linh, 51 tuổi, dân tộc Tày, thôn Tân Hoà, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang, tỷ lệ:1/1.</p>
<p><strong>2. Nhà truyền thống dân tộc Nùng</strong></p>
<p>Người Nùng thường ở nhà sàn và nhà nửa sàn nửa đất, trong đó nhà sàn là kiểu nhà truyền thống ưa thích của họ. Nhà thường rộng, có ba gian, vách thưng bằng gỗ và mái lợp ngói máng. Nay, đồng bào Nùng chuyển sang ở nhà đất là phổ biến. Nhà được chia làm hai phần bởi vách ngăn, trừ một lối đi ở gian giữa, phần trong đặt bếp, là nơi sinh hoạt của phụ nữ trong gia đình. Phần ngoài, dành cho nam giới và đặt bàn thờ tổ tiên. Phía sau nhà có cầu thang phụ, ở đấy có máng nước dùng để tắm rửa. Ngôi nhà được phục chế nguyên mẫu theo nhà của ông (bà)…………………dân tộc Nùng ở………………………………………., tỷ lệ………………..</p>
<p><strong>3. </strong><strong>Cây vườn nhà, rừng cọ, đồi chè, hoa hồi, hoa ban, dòng suối</strong>.</p>
<p>Từ lâu, cư dân nhóm Tày &#8211; Thái đã biết chọn nơi cư trú của mình là những thung lũng trù phú được bao bọc bởi những dòng sông, khe suối để canh tác và sáng tạo nên những giá trị vật chất, tinh thần, thích ứng với môi trường thiên nhiên. Với khí hậu và thổ nhưỡng vùng Đông Bắc thích hợp cho cây chè, hoa hồi phát triển, những dải đồi bát úp trập trùng được bao phủ bằng những đồi chè, đồi cọ xanh ngút ngàn. Dọc theo bờ sông, con suối là những chiếc cọn nước đang cần mẫn đưa nước lên từng thửa ruộng bậc thang.</p>
<p><strong>4. Chiếc cọn quay</strong></p>
<p>Cọn nước là sự sáng tạo đỉnh cao trong kỹ thuật làm thuỷ lợi của cư dân thung lũng thời kỳ tiền công nghiệp. Cọn được làm bằng tre, gỗ, áp dụng theo nguyên tắc lợi dụng dòng chảy, ngăn dòng, tạo áp lực, tác động cho guồng quay. Khi cọn quay sẽ múc nước từ dưới suối lên đổ vào hệ thống mương máng d?n nu?c vào ru?ng</p>
<p>Cùng với cọn quay dẫn nước lên cao là hệ thống thuỷ lợi như đập chắn nước (còn gọi là mương &#8211; phai), kè ngăn thông mực nước (còn gọi là lái), máng dẫn nước tới từng thửa ruộng (còn gọi là lín). Hệ thống thuỷ lợi này góp phần không nhỏ trong việc giải phóng sức lao động trong suốt thời kỳ dài, tru?c khi cụng nghi?p phỏt tri?n.</p>
<p>Cọn nước được phục chế nguyên mẫu theo con nước của dân tộc Tày, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn.</p>
<p>Tỷ lệ:………………</p>
<p>Chất liệu: Tre, Nứa, Vầu</p>
<p><strong>5. Cối giã gạo bằng sức nước</strong></p>
<p>Do sinh sống ở vùng thung lũng, nhiều sông suối nên ngoài việc lợi dụng sức nước, sáng tạo ra những chiếc cọn quay phục vụ cho việc tưới tiêu trong canh tác nông nghiệp, đồng bào còn biết tận dụng sức nước để giã gạo nhằm giải phóng sức lao động cho con người. Đi dọc theo dòng suối là âm thanh quen thuộc của những chiếc cối giã gạo. Cối giã nhanh hay chậm tuỳ theo dòng chảy mạnh hay yếu. Trung bình 1 ngày được 1 cối, đủ lượng gạo sử dụng trong gia đình trong một ngày.</p>
<p>Cối giã gạo được phục chế nguyên mẫu của dân tộc ……….</p>
<p>Chất liệu:…………..</p>
<p>Tỷ lệ:………………</p>
<p><strong>6. Cụm tượng thiếu nữ Thái, Mường vác nước</strong></p>
<p>Ở vùng thung lũng chân núi, người Tày, người Thái, Mường xây dựng hệ thống thuỷ lợi theo hai dạng cơ bản: phai và mương. Phai- là các con đập chắn ngang dòng suối làm từ những nguyên liệu sẵn có như đất, đá, gỗ, tre. Đồng bào thường chọn chỗ thuận tiện nhất để đắp phai tạo thành những “bức tường” có tác dụng ngăn dòng chảy. Ở nhiều vùng, đồng bào còn làm những con đường dẫn nước vào ruộng tuỳ theo địa hình, về sau do nhu cầu tưới tiêu ngày càng lớn, nên đã xuất hiện <em>lái</em> (ké phụ), <em>lín</em>(ống dẫn nước) của người Tày, người Thái hay <em>ống</em> (ống lấy nước bằng tre) của người Thái, người Mường.</p>
<p>Tác giả:……………….</p>
<p>Chất liệu:…………………………..</p>
<p>Tỷ lệ:………………….</p>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>                            <!--codes_iframe--><!--/codes_iframe--></p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-thung-lung/">Không gian văn hoá vùng thung lũng</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-thung-lung/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Không gian văn hoá vùng Trung du &#8211; Đồng bằng Bắc Bộ</title>
		<link>http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-trung-du-dong-bang-bac-bo/</link>
					<comments>http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-trung-du-dong-bang-bac-bo/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 11 Mar 2017 08:48:42 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Hệ thống trưng bày]]></category>
		<category><![CDATA[Trưng bày ngoài trời]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://news.kit.com.vn/?p=388</guid>

					<description><![CDATA[<p>Vùng văn hoá Trung du &#8211; Đồng bằng Bắc Bộ thể hiện trên diện tích 3.400 m2. Trong đó, trưng bày ngôi nhà 5 gian và mặt bằng sinh hoạt truyền thống của người Việt ở xã Tam Đa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Trong nhà có trưng bày một số sưu tập tài [&#8230;]</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-trung-du-dong-bang-bac-bo/">Không gian văn hoá vùng Trung du &#8211; Đồng bằng Bắc Bộ</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<table class="Table1">
<tbody>
<tr>
<td class="Columns1" style="text-align: justify;"><span id="dnn_ctr484_ViewTintuc_View_Chitiet_lbl_Description" class="Text_Description">Vùng văn hoá Trung du &#8211; Đồng bằng Bắc Bộ thể hiện trên diện tích 3.400 m2. Trong đó, trưng bày ngôi nhà 5 gian và mặt bằng sinh hoạt truyền thống của người Việt ở xã Tam Đa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Trong nhà có trưng bày một số sưu tập tài liệu hiện vật văn hoá gắn với ngôi nhà. Công cụ sản xuất như: Cày, bừa, cuốc… Công cụ dệt vải tơ tằm; Sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ như: Vàng, bạc, khảm trai, trạm khắc gỗ, nghề đá, in tranh dân gian, làm chiếu cói,…;Dụng cụ chế biến mắm, chế biến nông sản như: chày, cối, chum, vại,…; các hiện vật gắn với sinh hoạt như: Bộ bàn ghế, giường, tủ,&#8230;; Các hiện vật gắn với nghi lễ trong chu kỳ đời người; Nhạc cụ và các hiện vật gắn với tôn giáo, tín ngưỡng của người Kinh.</span></td>
</tr>
<tr style="text-align: justify;">
<td>
<div class="Columns1">
<p>Cấu trúc cảnh quan gồm: Hàng cau, mít, tre, trầu, sấu và cảnh quan ao nhà, có cổng làng, đường làng lát gạch nghiêng.</p>
<p><strong>1. Cổng làng của người Kinh</strong></p>
<p>Làng truyền thống có trật tự kỷ cương,  mỗi làng đều có cổng làng, lối ngõ với bờ tre bao bọc. Bên trong mỗi làng đều có cổng làng, cây đa, giếng n­ước, mái đình và chùa thờ Phật. Cổng làng truyền thống đư­ợc xây bằng gạch, trên có tháp canh cùng với cụm kiến trúc mái đình, giếng n­ước, cây đa, ngõ xóm đã trở thành biểu tượng văn hoá truyền thống của nông thôn vùng đồng bằng bắc bộ.</p>
<p>Tr­ước đây, mọi sinh hoạt văn hoá cộng đồng đều diễn ra sau cánh cổng làng, theo lối ứng xử: “Trống làng nào làng ấy đánh, Thánh làng nào làng ấy thờ” và “phép vua thua lệ làng”. Người dân tuân thủ lệ làng bằng h­ương ­ước.</p>
<p>Cổng làng được phục chế nguyên mẫu cổng làng người Kinh, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Tỉ lệ: 1/1</p>
<p><strong>2. Đường làng lát gạch nghiêng</strong></p>
<p>Các con đ­ường làng lát gạch nghiêng vẫn hiện diện ở các làng quê là bằng chứng cho tục “Cheo lệ làng” trong hôn nhân truyền thống người Kinh ở vùng nông thôn Bắc Bộ từ những năm đầu thế kỷ XX trở về trư­ớc. Theo tục lệ, khi lấy vợ, nhà trai phải nộp cho làng xã bên gái một khoản &#8220;lệ phí &#8221; gọi là &#8220;cheo&#8221; thì đám cưới mới được xem là hợp pháp và được làng xã công nhận. Khoản tiền cheo này nhiều địa phương dùng vào việc công ích như đào giếng, đắp đường, lát gạch, xây cổng làng&#8230;.</p>
<p>Đường làng được xây dựng theo nguyên mẫu đường làng dân tộc Kinh, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.</p>
<p><strong>3. Ngôi nhà truyền thống của người Kinh</strong></p>
<p>Khu nhà ở của ng­êi Kinh thường bố trí theo 4 kiểu: kiểu chữ nhất gồm một nhà chính, hai nhà phụ hai bên, sân ở giữa; kiểu chữ công gồm một nhà giữa nối hai nhà trước và sau gọi là “ống muống”, kiểu chữ nhị và chữ tam gồm hai nhà hoặc ba nhà xếp song song hàng với nhau, kiểu thước thợ là loại nhà rất phổ biến, gồm các nhà xếp theo chữ L. Những năm 80 trở về trước, nhà trung lưu thường xây bằng gạch, mái lợp ngói man,  nhà nghèo thường trát vách hay trình tường, mái lợp rạ.</p>
<p>Mặt bằng ngôi nhà chính truyền thống của người Kinh thường 3 gian 2 chái. Gian giữa bao giờ cũng là nơi đặt bàn thờ tổ tiên và bộ bàn ghế (phản hay chõng tre) để tiếp khách, hai gian bên là nơi ngủ của ông chủ nhà, các con trai và khách nam. Một chái có tủ, hòm đựng quần áo, giường ngủ của các con gái, có cửa thông ra đầu hồi, gần cửa có cối giã gạo, một chái vừa là kho, chứa cót thóc vừa có giường của vợ chủ nhà. Cũng có nơi, chái dành cho con gái đồng thời cũng là kho, nơi đặt cối xay thóc, giã gạo.</p>
<p>Nhà phụ có bếp, có nơi còn đặt cối xay thóc, giã gạo. Tiếp theo nhà phụ, ngươì ta thường xây chuồng trâu bò và chuồng gà, ngoài cùng là sàn thấp để rơm rạ dự trữ thức ăn cho trâu, bò.</p>
<p>Trước nhà phụ, tiếp giáp với sân là giếng khơi. Trước mặt nhà chính và nhà phụ có sân và vườn. Trước hiên nhà có vại để hứng nước mưa. Trong vườn bao giờ cũng có cây cau, giàn trầu ở phía trước, các cây mít ở phía sau.</p>
<p>Ngôi nhà được phục chế theo nguyên mẫu nhà ông (bà)&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;..dân tộc Kinh, xã Tam Đa, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh với tỷ lệ 1/1.</p>
<p><strong>4. Cảnh quan cau, mít, tre, sấu và ao làng</strong></p>
<p>Làng tôi bé nhỏ xinh xinh</p>
<p>Chung quanh có luỹ tre xanh rườm rà</p>
<p>Trong làng san sát nóc nhà</p>
<p>Đình làng lợp ngói có vài cây cau</p>
<p>Chùa làng rêu phủ mái nâu</p>
<p>Dân làng thờ phật để cầu bình an</p>
<p>Chợ làng có quán năm gian</p>
<p>Ngày phiên thiên hạ buôn hàng rất đông</p>
<p>Giếng làng có mạch nước trong</p>
<p>Có cây đa mát bóng vùng rất xa</p>
<p><strong>5. Giếng làng</strong></p>
<p>Đồng bằng Bắc Bộ xưa, làng nào cũng có vài ba cái giếng, nhưng không phải  giếng nào cũng giống nhau. Cái giếng cũng có danh phận của nó. Làng giàu có thì giếng xây gạch xoải, có rồng chầu như giếng làng Mông Phụ ở Sơn Tây, một trong những làng Việt cổ nhất còn lại, dễ có đến hơn 300 năm tuổi. Làng nghèo thì chỉ là giếng đắp đất xung quanh. Giếng nước tượng trưng cho sự dồi dào sung mãn và là nguồn gốc của con người. Bàn thờ gia tiên ở nhà dân hay bàn thờ thần thánh ở đền, đình đều không thể thiếu được bát nước mưa hay nước giếng. Trước ngày hội làng, bài vị và ngai thờ Thành hoàng đều được mục dục (lau chùi) bằng nước giếng.</p>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>                            <!--codes_iframe--><!--/codes_iframe--></p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-trung-du-dong-bang-bac-bo/">Không gian văn hoá vùng Trung du &#8211; Đồng bằng Bắc Bộ</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-trung-du-dong-bang-bac-bo/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Không gian văn hoá vùng Miền Trung &#8211; Ven biển</title>
		<link>http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-mien-trung-ven-bien/</link>
					<comments>http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-mien-trung-ven-bien/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 11 Mar 2017 08:47:39 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Hệ thống trưng bày]]></category>
		<category><![CDATA[Trưng bày ngoài trời]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://news.kit.com.vn/?p=385</guid>

					<description><![CDATA[<p>Vùng văn hoá Miền Trung &#8211; Ven biển được thể hiện trên diện tích 4.000m2 gồm: Ngôi tháp Chăm; Đền thờ cá ông được xây dựng theo mô típ lăng ngư Ông ở phường Mân Thái, Quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng; Xưởng gốm của người Chăm, trưng bày sưu tập tài liệu hiện [&#8230;]</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-mien-trung-ven-bien/">Không gian văn hoá vùng Miền Trung &#8211; Ven biển</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<table class="Table1">
<tbody>
<tr>
<td class="Columns1" style="text-align: justify;"><span id="dnn_ctr484_ViewTintuc_View_Chitiet_lbl_Description" class="Text_Description">Vùng văn hoá Miền Trung &#8211; Ven biển được thể hiện trên diện tích 4.000m2 gồm: Ngôi tháp Chăm; Đền thờ cá ông được xây dựng theo mô típ lăng ngư Ông ở phường Mân Thái, Quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng; Xưởng gốm của người Chăm, trưng bày sưu tập tài liệu hiện vật: Công cụ sản xuất và sản phẩm nghề làm gốm. Sưu tập đồ thờ cúng, dụng cụ sinh hoạt, công cụ và sản phẩm nghề dệt vải; Các hiện vật gắn với tôn giáo, tín ngưỡng, từng nghi lễ trong chu kỳ đời người, nhạc cụ của đồng bào các dân tộc miền Trung &#8211; Ven biển, đặc biệt là hệ thống tượng Chăm và các hiện vật tiêu biểu của người Chăm như Linga và yoni, vũ nữ Chăm…</span></td>
</tr>
<tr style="text-align: justify;">
<td>
<div class="Columns1">
<p>Cấu trúc cảnh quan gồm: Xương rồng, phi lao, các loại cây khác và hình tượng thiếu nữ Chăm đội nước.</p>
<p><b>1. Ngôi Tháp Chăm</b></p>
<p>Người Chăm có nhiều công trình kiến trúc và điêu khắc là đặc trưng hết sức độc đáo. Từ Quảng Nam đến Bình Đình có tới 30 cụm tháp. Thánh địa Mỹ Sơn là cụm di tích nổi tiếng được xếp hạng di sản văn hoá thế giới, minh chứng cho thời kỳ hoàng kim của vương quốc Chăm bắt đầu từ thế kỷ thứ  IV kéo dài đến thế kỷ thứ XIII. Bên cạnh đó là những tháp mang phong cách Đồng Dương (thế kỷ IX đến cuối thế kỷ X) nơi đây từng là thủ đô của vương quốc Chămpa. Thêm vào đó là các khu đền tháp nổi tiếng ở Bình Đình, Khánh Hoà,  Ninh Thuận như Tháp Hoà lai (Pôk long Girai) (Ninh Thuận), Pô Rô Mê (Phan Rang), Phố Hài (Phan Thiết), các công trình Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương đều là những kiến trúc tôn giáo mang giá trị lao động quý giá, là niềm tự hào của người Chăm.</p>
<p>Ngôi tháp Chăm được phục chế theo nguyên mẫu tháp Po Klong Grai, tỉnh Ninh Thuận với tỷ lệ 1/3.</p>
<p><b>2. Đền thờ cá ông</b></p>
<p>Dọc ven biển miền Trung có nhiều lăng đẹp gắn với tục thờ cá voi của các ngư dân miền biển như: tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, Ninh Thuận, Bình Thuận, TP. HCM… Lăng ngư ông là nơi hàng năm ngư dân tổ chức các hoạt động và nghi lễ thờ cá voi, các hội vui chơi truyền thống. Hầu hết các lăng miếu đều có ngọc cốt. Đầu cá Ông được trùm vải đỏ. Lăng “Ông” thường có ba phần: phần chính là lăng nơi để xương cá ông; Hai bên là tả, hữu lý ngư (hộ vệ của cá ông).Tục thờ cúng cá Ông tồn tại như một tín ngưỡng của ngư dân miền biển. Các động thái cầu cúng, diễn xướng trong lễ hội này đều mang một nội dung chung qua các bài chèo bả trạo đưa ông, là cầu mong được mùa cá, làng xóm bình yên, mọi nhà no đủ.</p>
<p>Lăng ngư ông được Bảo tàng VHCDT Việt Nam phục chế nguyên mẫu theo Lăng ngư ông làng Tân Thái (cũ) thuộc phường Mân Thái &#8211; quận đảo Sơn Trà &#8211; TP. Đà Nẵng, với tỉ lệ 1/3 (rộng: 4,2m; sâu 4,4m; cao 2m).</p>
<p><b>3. Xưởng gốm của người Chăm</b></p>
<p>Nghề gốm của người Chăm từ lâu đã nổi tiếng với những tên tuổi như: Gò Sành, Bầu Trúc, nó không những đáp ứng được nhu cầu xây dựng các kiến trúc tháp mà còn phục vụ đời sống tự cung tự cấp. Kỹ thuật làm gốm hoàn toàn bằng phương pháp thủ công, theo lối đắp con trạch, không sử dụng bàn xoay mà đi giật lùi xung quanh bệ gốm để tạo hình sản phẩm .</p>
<p>Người Chăm ít chú trọng trang trí hoa văn trên đồ gốm. Chỉ có lu đựng nước hoặc đựng lương thực là được trang trí. Hoa văn chủ yếu là hình kẻ khuông nhạc. Người thợ dùng lược nhiều răng vẽ đường sóng lượn lên phần trên vai các loại lu. Hoa văn được vẽ khi gốm còn chưa khô, ngay sau giai đoạn nặn hình. Khi vẽ, một tay cầm lược, một tay đỡ trong, chân giật lùi nhẹ theo động tác của tay.<i> </i>Gốm được nung ngoài trời, không có lò nung riêng.</p>
<p>Xưởng gốm gia đình ông Bá Văn Ngọt, dân tộc Chăm, thôn Vĩnh Thuận, thị Trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận</p>
<p><b>4. </b><b>Cây xương rồng, phi lao.</b></p>
<p>Dọc dải đất miền trung đầy nắng và gió với những dải cát trắng trải dài, đất đai khô cằn và nắng nóng không một loại cây trồng nào có thể tồn tại và phát triển, chỉ có loài xương rồng và phi lao có thể sống được trên những dải cát nóng và khô cằn, tạo mầu xanh cho cuộc sống của người dân miền Trung. Để trống chọi vào thiên nhiên khắc nghiệt, những rặng phi lao còn có tác dụng chắn cát, chắn sóng biển mỗi khi bão về. Nó là biểu tượng cho sức sống quật cường của người dân miền Trung.</p>
<p><b>5. </b><b>Cụm  thiếu nữ Chăm đội nước.</b></p>
<p>Múa Chăm là một bộ phận quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Chăm nh­ ®iÖu móa: <i>Biyen, Tiaung</i> (bắt chước dáng con công, trĩ), <i>Patra</i> (hoàng tử), <i>Wah gaiy</i> (chèo thuyền). Các điệu múa luôn là tâm điểm và là “tiết mục” được trông chờ nhất trong lễ hội như: Múa đội lu (Tamia đwa buk): Múa quạt (Tamia tadik): Múa khăn (Tamia tanhiak). Trong đó điệu múa đội lu rất nổi tiếng xuất phát điểm là Múa đội <i>Thong hala</i> (cỗ bồng trầu) trong lễ dâng nước thánh trên tháp, sau đó nó được kết hợp với thao tác đội lu nước trong sinh hoạt ngày thường, thành loại hình múa này.</p>
<p>Tác giả:&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;..</p>
<p>Chất liệu:&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;.</p>
<p>Tỷ lệ: &#8230;&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;</p>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>                            <!--codes_iframe--><!--/codes_iframe--></p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-mien-trung-ven-bien/">Không gian văn hoá vùng Miền Trung &#8211; Ven biển</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-mien-trung-ven-bien/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Không gian văn hoá vùng Trường Sơn – Tây Nguyên</title>
		<link>http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-truong-son-tay-nguyen/</link>
					<comments>http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-truong-son-tay-nguyen/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 11 Mar 2017 08:46:27 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Hệ thống trưng bày]]></category>
		<category><![CDATA[Trưng bày ngoài trời]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://news.kit.com.vn/?p=381</guid>

					<description><![CDATA[<p>Văn hoá vùng Trường Sơn – Tây Nguyên thể hiện trên diện tích 4.000 m,2 xây dựng ngôi nhà Rông Ba Na; Cây nêu trong lễ hội đâm trâu; Nhà mồ Ba Na; Nhạc cụ truyền thống: đàn đá, đàn gió, đàn nước…Trong đó trưng bày sưu tập tài liệu hiện vật: Công cụ sản [&#8230;]</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-truong-son-tay-nguyen/">Không gian văn hoá vùng Trường Sơn – Tây Nguyên</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<table class="Table1">
<tbody>
<tr>
<td class="Columns1" style="text-align: justify;"><span id="dnn_ctr484_ViewTintuc_View_Chitiet_lbl_Description" class="Text_Description">Văn hoá vùng Trường Sơn – Tây Nguyên thể hiện trên diện tích 4.000 m,2 xây dựng ngôi nhà Rông Ba Na; Cây nêu trong lễ hội đâm trâu; Nhà mồ Ba Na; Nhạc cụ truyền thống: đàn đá, đàn gió, đàn nước…Trong đó trưng bày sưu tập tài liệu hiện vật: Công cụ sản xuất; Trang phục truyền thống; Sưu tập dụng cụ gắn với sinh hoạt như: Ché, chiêng, trống da voi; Công cụ và sản phẩm nghề dệt vải; Các hiện vật gắn với từng nghi lễ trong chu kỳ đời người, nhạc cụ và các hiện vật gắn với tôn giáo, tín ngưỡng của cư dân vùng Trường Sơn – Tây Nguyên, sưu tập nhà mồ và tượng nhà mồ.</span></td>
</tr>
<tr style="text-align: justify;">
<td>
<div class="Columns1">
<p>Cấu trúc cảnh quan gồm: Cây Pơ lang, cây Kơ nia, và những dải đất các thác nước chảy để vận hành đàn gió, đàn nước và tượng voi mẹ, voi con…</p>
<p><strong>1. Ngôi nhà rông Ba Na</strong></p>
<p>Nhà rông là một loại hình kiến trúc dân gian lâu đời của nhiều tộc người vùng Trường Sơn &#8211; Tây Nguyên, một sản phẩm văn hoá độc đáo, một biểu tượng của Tây Nguyên. Nhà Rông là ngôi nhà chung, là trái tim, là biểu tượng cho sức mạnh và sự trường tồn của buôn làng Tây Nguyên, là nơi diễn ra mọi sinh hoạt văn hóa cộng đồng của đồng bào Tây Nguyên như: Lễ hội, Lễ cúng Yàng. Đây cũng là nơi tiếp khách, nơi già làng tập hợp dân làng để luận bàn những việc quan trọng, nơi  thanh niên chưa vợ tụ tập để học đan lát, học làm cung tên, biểu diễn cồng chiêng và nghe già làng kể chuyện lịch sử của buôn làng. Nhà Rông còn là nơi lưu giữ các hiện vật truyền thống như <a title="Cồng" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%93ng">Cồng</a>, <a title="Chiêng" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%C3%AAng">chiêng</a>, <a title="Trống" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Tr%E1%BB%91ng&amp;action=edit">trống</a>, <a title="Vũ khí" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_kh%C3%AD">vũ khí</a>, đầu các con <a title="Vật hiến sinh" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=V%E1%BA%ADt_hi%E1%BA%BFn_sinh&amp;action=edit">vật hiến sinh</a> trong các ngày lễ. Ngôi nhà rông phục chế nguyên mẫu ngôi nhà Rông của dân tộc Ba Na, tỉnh Kon Tum</p>
<p><strong>2. Cây nêu trong lễ hội:</strong></p>
<p>Trong các lễ hội quan trọng của đồng bào Tây Nguyên như lễ bỏ mả, họ thường dựng cây nêu với các hình chạm khắc tượng trưng cho bông lúa, hình răng cưa tượng trưng cho núi đồi, đường lượn sóng tượng trưng cho sông suối, các hình ô vuông trong đó có khắc chấm theo hàng chéo tượng trưng cho ruộng đồng. Các hình tam giác đối đỉnh nhau tượng trưng cho sinh thực khí nam và nữ. Xung quanh thân cây nêu, người ta còn chạm các hình động vật và nhiều loại hình hoa văn (hình nón, hình que&#8230;) cây cối, mặt trời, mặt trăng&#8230; để tượng trưng cho không gian vũ trụ mà linh hồn sẽ sinh sống ở thế giới bên kia.</p>
<p><strong>3. Đàn đá, đàn gió, đàn nước</strong></p>
<p>Tây nguyên được biết đến như là một vùng đất của Lễ hội và âm nhạc. Ngoài những nhạc cụ truyền thống được lấy từ tự nhiên như tre nứa, lá, da thú, gỗ, đất, vỏ bầu khô…còn có các loại nhạc cụ rất độc đáo như: cây đàn tơrưng nước, tơrưng gió, klong pút…đều có gốc từ những dụng cụ đuổi thú trên nương rẫy. Ngoài những nhạc cụ truyền thống trên thì ở Tây Nguyên còn được biết đến bởi những bộ đàn đá cổ xưa. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bộ đàn đá mới được phát hiện ở Tây Nguyên có cấu trúc hoàn toàn phù hợp với cấu trúc phổ biến của dàn cồng chiêng các tộc người Êđê, Raglai, Mnông, Bana…</p>
<p><strong>4.</strong> <strong>Cấu trúc cảnh quan:</strong></p>
<p>Tây Nguyên &#8211; hai tiếng ngân vang trong tiếng chiêng đầy hùng tráng, như âm hưởng của núi rừng hùng vĩ, tha thiết trong suối đàn Tơrung khoan nhặt. Tây Nguyên có tiếng đàn Talư trong vắt như nước suối, có cánh hoa Pơ lang thắm đẹp nhất rừng, có cây Kơnia toả bóng tròn duyên dáng. Tây Nguyên có bản trường ca Đam San bất diệt, có anh hùng Núp- người con của quê hương bất khuất, kiên cường, có thác Pren, thác Cam Li, có hồ Xuân Hương, hồ Than Thở..Tây Nguyên có những mặt bằng cao nguyên bazan đất đỏ rộng lớn…tất cả tạo nên một thế mạnh đặc biệt mà không một miền núi nào trên đất nước ta có thể sánh kịp.</p>
<p><strong>5. Tượng voi mẹ, voi con</strong></p>
<p>Ở Tây Nguyên, voi đã trở thành một loài vật có ích rất nhiều đối với con người. Voi được dùng làm phương tiện vận chuyển, đi lại. Một số tộc người ở vùng Trường Sơn &#8211; Tây Nguyên có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi, nhưng nổi tiếng hơn cả là đồng bào Mnông ở bản Đôn với kinh nghiệm và sự sáng tạo trong việc thuần dưỡng những chú voi rừng hung dữ để trở thành những chú voi nhà ngoan ngoãn, phục tùng sự chỉ huy của con người. Nghề thuần dưỡng voi của người Mnông xuất phát từ kết quả của những cuộc săn bắt voi. Những đoàn đi săn voi mỗi chuyến đưa về một vài con, thậm chí có chuyến đưa về đến hàng chục con. Voi được thuần dưỡng là tài sản quý, biểu tượng cho sức mạnh và niềm kiêu hãnh trong buôn làng.</p>
<p>Tác giả:&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;</p>
<p>Chất liệu: &#8230;&#8230;&#8230;..</p>
<p>Tỷ lệ:&#8230;&#8230;&#8230;&#8230;.</p>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>                            <!--codes_iframe--><!--/codes_iframe--></p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-truong-son-tay-nguyen/">Không gian văn hoá vùng Trường Sơn – Tây Nguyên</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-truong-son-tay-nguyen/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Không gian văn hoá vùng đồng bằng Nam Bộ</title>
		<link>http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-dong-bang-nam-bo/</link>
					<comments>http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-dong-bang-nam-bo/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 11 Mar 2017 08:43:27 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Hệ thống trưng bày]]></category>
		<category><![CDATA[Trưng bày ngoài trời]]></category>
		<guid isPermaLink="false">http://news.kit.com.vn/?p=378</guid>

					<description><![CDATA[<p>Không gian văn hoá vùng đồng bằng Nam Bộ thể hiện trên diện tích 4.000 m2, giới thiệu mô hình và cảnh quan ngoại thất ngôi chính điện chùa Phướng tại tỉnh Trà Vinh gồm: Kiến trúc cảnh quan xung quanh ngôi chùa, tháp đựng cốt của người Khơ Me ở chùa Diệp Thạch, tỉnh [&#8230;]</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-dong-bang-nam-bo/">Không gian văn hoá vùng đồng bằng Nam Bộ</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<table class="Table1">
<tbody>
<tr>
<td class="Columns1"><span id="dnn_ctr484_ViewTintuc_View_Chitiet_lbl_Description" class="Text_Description">Không gian văn hoá vùng đồng bằng Nam Bộ thể hiện trên diện tích 4.000 m2, giới thiệu mô hình và cảnh quan ngoại thất ngôi chính điện chùa Phướng tại tỉnh Trà Vinh gồm: Kiến trúc cảnh quan xung quanh ngôi chùa, tháp đựng cốt của người Khơ Me ở chùa Diệp Thạch, tỉnh Trà Vinh, kiến trúc tháp đựng cốt, cổng chùa Chăm Ka ở tỉnh Trà Vinh; Không gian văn hoá Nam bộ dưới dạng miệt vườn với nhiều cây trái đặc trưng của vùng như: Nhãn, xoài, vú sữa, bưởi, …., Bên cạnh đó là hệ thống kênh rạch với chiếc cầu khỉ ở huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.</span></td>
</tr>
<tr>
<td>
<div class="Columns1">
<p><strong>1. Chùa Khmer</strong></p>
<p>Chùa Khơ Me ở Nam Bộ là công trình kiến trúc có giá trị, là không gian thiêng liêng tập hợp các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa nghệ thuật. Ngoài chức năng thỏa mãn những nhu cầu tâm linh, nó còn đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ cho nhân dân. Vì vậy, việc đóng góp để xây dựng chùa được coi như một khoán ước đảm bảo hạnh phúc cho cuộc sống hiện tại và vĩnh hằng của mỗi kiếp người trên chốn trần gian, dù ngôi nhà sinh sống hàng ngày của người dân còn đơn sơ, nhưng đồng bào Khơ Me không tiếc công sức, vật liệu quý để xây dựng nên những ngôi chùa nguy nga đồ sộ giữa trung tâm của phum, sóc. Những ngôi chùa cổ kính của người Khơme có niên đại khoảng 400 đến 600 năm như: chùa Âng, chùa Samrôngêk, chùa Phướng ở Trà Vinh, chùa Kl&#8217;eang ở Sóc Trăng…</p>
<p>Có thể nói, chùa là một trường học của người Khơ Me. Ngôi chùa còn là nơi thiêng liêng để cử hành các lễ hội của cộng đồng như: Lễ Chôl &#8211; chhnăm &#8211; thmây, lễ Đôn ta, lễ Ok-Om bok,… Ngày lễ hội đồng thời là không gian bảo tồn phát huy các giá trị nghệ thuật dân tộc như: Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Dù kê, Rô băm, các điệu múa Sarawan, Rom wong&#8230; Chùa được phục chế nguyên mẫu theo ngôi chính điện chùa Phướng, Khóm 1, phường 7 thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.</p>
<p><strong>2. Cổng chùa Chăm Ka</strong></p>
<p>Chùa Khơme là một tổng thể kiến trúc nghệ thuật tinh xảo và đẹp mắt, những phù điêu, họa tiết, những bức tượng được làm rất công phu. Cổng chùa được trang trí nhiều hoa văn, họa tiết, màu sắc rực rỡ. <strong>Cổng chùa nằm về hướng Đông</strong>. Trên cổng còn có ba ngôi tháp nhỏ. Quanh chùa có đến ba vòng rào, tất cả đều bằng xi-măng và rực rỡ màu sắc. Vòng rào ngoài lớn rồi nhỏ dần vào trong, khoảng cách giữa các vòng rào rất rộng. Khuôn viên chùa trồng nhiều cây thốt lốt .</p>
<p>Cổng chùa được xây dựng nguyên mẫu theo Cổng chùa Chăm Ka, dân tộc Khơ Me ở ấp Tân Ngãi, xã Lương Hoà, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh</p>
<p><strong>3. Tháp để cốt</strong></p>
<p>Trong khu vực chung quanh chùa Khmer, thường có những loại tháp lớn nhỏ đủ kiểu và loại khác nhau. Đây là những tháp để cốt. Những loại tháp này thường được cấu trúc ba phần: chân tháp khá rộng, hình vuông, có một lỗ nhỏ để cốt của người quá cố vào; thân tháp có nhiều tầng, nhỏ từ dưới lên trên; đầu tháp là những mũi nhọn, trên đỉnh thường để đầu thần có bốn mặt gọi là &#8220;Maha Prum&#8221;. Phía trên đầu tượng là cột sắt nhỏ, nhọn. Trong vườn chùa ngoài những ngôi tháp để cốt các vị Sãi cả, những người đã từng có công xây dựng, trùng tu kiến thiết chùa, còn có những ngôi tháp để cốt của người dân trong Phum, Srok.</p>
<p>Tháp đựng cốt ở chùa Điệp Thạch, tỉnh Trà Vinh, tỷ lệ …………..</p>
<p><strong>4. Miệt vườn Nam Bộ</strong></p>
<p>Những miệt vườn ngút ngàn cây trái, những dòng sông, con rạch lắm tôm nhiều cá, đã trở thành phần hồn của vùng đất Nam Bộ. Ở nơi là quê hương của “văn minh” sông rạch này, đâu cũng thấy màu xanh của cây trái, thuyền ghe xuôi ngược. Với một môi trường thiên nhiên tuyệt đẹp, gió mát trong lành nằm giữa vùng đất trũng có nhiều loại cây: tràm, gáo, đưng, sậy, trâm bầu, sen, súng&#8230; Cảnh quan hấp dẫn, không khí mát mẻ, trong lành của thiên nhiên đồng ruộng cùng với những chiếc cầu dừa tạo nên không gian cảnh quan chung của miệt vườn Nam Bộ.</p>
<p>Miệt vườn được xây dựng theo mô hình của gia đình ông Nguyễn  Tấn Muông và bà Nguyễn Thị Bẩy ở ấp Trường Thọ, xã An Mỹ, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.</p>
</div>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>                            <!--codes_iframe--><!--/codes_iframe--></p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-dong-bang-nam-bo/">Không gian văn hoá vùng đồng bằng Nam Bộ</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="http://mcve.org.vn">Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>http://mcve.org.vn/2017/03/11/khong-gian-van-hoa-vung-dong-bang-nam-bo/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
